LỜI NÓI ĐẦU

Cuốn Sổ tay Thẩm phán đầu tiên của ngành Tòa án Việt Nam được xuất bản năm 2006 với sự hỗ trợ kỹ thuật của Chính phủ Ô-xtơ-rây-lia thông qua Cơ quan phát triển quốc tế Ô-xtơ-rây-lia (AusAID). Cuốn Sổ tay Thẩm phán này đã phát huy hiệu quả trong việc trợ giúp các Thẩm phán trong công tác xét xử hàng ngày. 

Trong những năm qua, Sổ tay Thẩm phán  là tài liệu tham khảo thường xuyên của các Thẩm phán và đã góp phần nâng cao kỹ năng xét xử của các Thẩm phán, đặc biệt là các Thẩm phán mới được bổ nhiệm. Mặc dù đã có sự nỗ lực cao của các tác giả khi lần đầu tiên xây dựng cuốn Sổ tay Thẩm phán, song cuốn Sổ tay vẫn còn một số điểm chưa được hợp lý, một số lĩnh vực chưa được đề cập đến nên hiệu quả của cuốn Sổ tay vẫn còn bị hạn chế. Bên cạnh đó, trong thời gian qua có nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có những văn bản quy phạm pháp luật rất quan trọng trong hoạt động xét xử tại Tòa án. Mặt khác, trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) từ ngày 11 tháng 01 năm 2007 và trở thành thành viên của nhiều Công ước, điều ước quốc tế song phương và đa phương, do vậy việc nâng cao năng lực xét xử của các Thẩm phán là việc làm cần thiết.
 
Với các lý do trên đây, việc sửa đổi, bổ sung cuốn Sổ tay Thẩm phán là hết sức cần thiết và là một trong những phương thức để thực hiện việc nâng cao năng lực xét xử của các Thẩm phán.
 
Nhận thức được tầm quan trọng của cuốn Sổ tay Thẩm phán, năm 2008, Tòa án nhân dân tối cao và nhóm chuyên gia quốc tế đã tiến hành khảo sát ý kiến của các thẩm phán trên phạm vi cả nước về mức độ tiện dụng của cuốn Sổ tay và khả năng, phương thức sửa đổi, bổ sung cuốn Sổ tay này. Việc lấy ý kiến góp ý đã được thực hiện dưới ba hình thức: i) lấy ý kiến trực tiếp; ii) gửi bản câu hỏi góp ý; iii) tổ chức hội thảo lấy ý kiến. Đa số các ý kiến góp ý đều cho rằng cuốn Sổ tay Thẩm phán cần phải được cập nhật, sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện thêm một bước.
 
Được sự hỗ trợ kỹ thuật của Chính phủ Ô-xtơ-rây- lia, Tòa án nhân dân tối cao đã Hợp tác cùng Tòa án liên bang Ô-xtơ-rây- lia tổ chức thực hiện Dự án Cập nhật Sổ tay Thẩm phán. Tòa án nhân dân tối cao đã chủ trì và mời các Thẩm phán có kinh nghiệm trong các lĩnh vực xét xử để tiến hành sửa đổi, bổ sung nội dung của cuốn Sổ tay Thẩm phán, đồng thời cập nhật những văn bản quy phạm pháp luật liên quan được ban hành từ năm 2006 đến nay. Tuy nhiên, Sổ tay Thẩm phán không phải là tuyển tập các luật hoặc bộ luật để Thẩm phán sử dụng một cách trực tiếp, mà chỉ đưa ra những thông tin chỉ dẫn để Thẩm phán vận dụng nhằm giải quyết tốt các vụ án cụ thể; do vậy, cuốn Sổ tay sẽ không liệt kê tất cả các văn bản quy phạm pháp luật hay chỉ ra cách giải quyết từng vụ án cụ thể.
 
Nội dung của Sổ tay Thẩm phán được xuất bản lần này vẫn giữ nguyên cách trình bày như đã sử dụng trong cuốn Sổ tay Thẩm phán được phát hành lần đầu tiên và vẫn bao gồm những bình luận, hướng dẫn về lý luận và kỹ năng thực tiễn cho việc giải quyết các loại vụ án tại Toà án. Trong lần xuất bản này, nội dung của năm phần trong cuốn Sổ tay Thẩm phán được xuất bản lần đầu tiên đã được cập nhật và bổ sung thêm Phần thứ Sáu về thủ tục bắt giữ tàu biển.
 
Sổ tay Thẩm phán được sửa đổi, bổ sung lần này với mong muốn tiếp tục cung cấp cho Thẩm phán những kỹ năng xét xử đã được cập nhật theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành. Điều này sẽ rất có ý nghĩa đối với các Thẩm phán, nhất là các Thẩm phán mới được bổ nhiệm trong quá trình công tác và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của mình. Ngoài ra, Sổ tay Thẩm phán còn là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho những người tiến hành tố tụng (nói chung), giáo viên, sinh viên luật.... Đây cũng là tài liệu giúp cho những người tham gia tố tụng hiểu biết sâu hơn về thủ tục tố tụng tại Toà án và giúp cho việc tiến hành các thủ tục thuận lợi hơn. Sổ tay Thẩm phán sẽ tiếp tục là tài liệu cơ bản giúp cho công chúng hiểu cụ thể hơn về hoạt động của Toà án và dễ dàng tiếp cận Tòa án hơn.
 
Với tính chất, mục đích và ý nghĩa hết sức quan trọng như vậy, Toà án nhân dân tối cao, đặc biệt là các tác giả và Ban biên tập, đã nỗ lực rất lớn để sửa đổi, bổ sung cuốn Sổ tay này. Việc sửa đổi, bổ sung cuốn Sổ tay Thẩm phán lần này đã được hoàn thành với sự hỗ trợ kỹ thuật của Chính phủ Ô-xtơ-rây- lia thông qua Cơ quan phát triển Quốc tế Ô-xtơ-rây- lia (AusAID), Tòa án liên bang Ô-xtơ-rây- lia, Đại sứ quán Ô- xtơ- rây- lia tại Việt Nam, đặc biệt là những nỗ lực của nhóm chuyên gia quốc tế Ô-xtơ-rây-lia, Ngài Michael Moore, Thẩm phán Tòa án Liên bang Ô-xtơ-rây-lia, Bà Cate Sumner, Ông Nguyễn Kiên Cường, Luật sư, Hãng luật Maddocks, Melbourne.
 
Hy vọng Sổ tay Thẩm phán sẽ đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng, đặc biệt là các Thẩm phán. Với mong muốn như vậy, Toà án nhân tối cao rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp cho Sổ tay Thẩm phán để chúng tôi tiếp tục chỉnh sửa và hoàn thiện cho những lần xuất bản tiếp theo.
 
                                                                                         Chánh án Toà án nhân dân tối cao
                                           
                                                                                                                                      Trương Hòa Bình
 
 
 
LỜI GIỚI THIỆU

LỜI GIỚI THIỆU VỀ SỔ TAY THẨM PHÁN

CỦA NGÀI ALLASTER COX, ĐẠI SỨ Ô-XTƠ-RÂY- LIA TẠI VIỆT NAM

Tôi rất vui mừng thấy rằng với sự cộng tác của Toà án nhân dân tối cao Việt Nam, Ô-xtơ-rây-lia đã có thể tiếp tục hỗ trợ việc sửa đổi, bổ sung cuốn Sổ tay Thẩm phán chính thức đầu tiên của ngành Toà án Việt Nam.

Việc Chính phủ Ô-xtơ-rây-lia tiếp tục hỗ trợ Sổ tay thẩm phán thông qua Cơ quan phát triển quốc tế Ô-xtơ-rây-lia (AusAID) phản ánh cam kết của Ô-xtơ-rây-lia giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực quản lý nhà nước và tăng cường nhà nước pháp quyền trong phạm vi toàn quốc.
 
Sổ tay Thẩm phán đóng góp vào quá trình này bằng việc cung cấp nguồn tiếp cận đến các văn bản, thông tin và các thông tin pháp lý quan trọng khác mà các Thẩm phán và những người làm công tác pháp luật có thể sử dụng, và qua đó họ có thể tiếp cận công việc của mình với sự hiểu biết chắc chắn và hoàn chỉnh về luật pháp. Đây là nền tảng vững chắc để một hệ thống toà án minh bạch, công bằng và hiệu quả có thể tiếp tục phát triển, và đó là những điều kiện tiên quyết then chốt của sự phát triển kinh tế và xã hội bền vững.
 
Khi mà cuốn Sổ tay Thẩm phán đầu tiên vẫn được công nhận rộng rãi là một nguồn tài liệu quan trọng cho các Thẩm phán và những người làm công tác pháp luật thì điều không kém phần quan trọng là cuốn Sổ tay thẩm phán này phải luôn được cập nhật. Đó chính là mục tiêu mà dự án sửa đổi Sổ tay thẩm phán này đã đạt được; không chỉ đưa vào những văn bản pháp luật đã được sửa đổi từ năm 2006, Sổ tay Thẩm phán sửa đổi cũng chứa đựng nhiều văn bản pháp lý và các giải thích hữu ích khác được xây dựng nhằm tối đa hoá các lợi ích sử dụng của nó.
 
Mất gần hai năm để hoàn thành dự án sửa đổi Sổ tay Thẩm phán. Một số chuyên gia Việt Nam và Ô-xtơ-rây-lia đã tham gia quá trình sửa đổi. Nhóm tác giả Sổ tay Thẩm phán Việt Nam do Tiến sỹ Đặng Quang Phương - Phó Chánh án Thường trực Toà án nhân dân tối cao Việt Nam - người đã nhìn thấy trước sự thành công của Sổ tay Thẩm phán đầu tiên - lãnh đạo. Cam kết của Tiến sỹ Phương bảo đảm rằng phiên bản sửa đổi cũng sẽ thành công tương tự.
 
Điều đặc biệt quan trọng là nhóm tác giả sửa đổi Sổ tay Thẩm phán là các Thẩm phán cao cấp và các chuyên gia pháp lý rất nhiều kinh nghiệm của ngành Toà án Việt Nam. Chính những Thẩm phán là người hiểu biết rõ nhất về nhu cầu của họ và về kiến thức cần thiết trong tố tụng tại toà án. Tôi đặc biệt cảm ơn những người đã tham gia vào quá trình soạn thảo.
 
Sự tham gia của phía Ô-xtơ-rây-lia là dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp ngân sách (600.000 đô la Mỹ). Phía Ô-xtơ-rây-lia đã đặc biệt may mắn có được Toà án Liên bang Ô-xtơ-rây-lia tham gia, đặc biệt là Ngài Thẩm phán Micheal Moore đã dẫn dắt quá trình sửa đổi. Tôi xin chân thành cảm ơn các chuyên gia Ô-xtơ-rây-lia và Việt Nam đã làm việc với Toà án Liên bang: Bà Cate Sumner và ông Nguyễn Kiên Cường - luật sư, Hãng luật Maddocks tại Melbourne.
 
Tôi hy vọng rằng các Thẩm phán Việt Nam sẽ tìm thấy tại cuốn Sổ tay Thẩm phán nguồn trợ giúp lớn trong việc thực hiện các nhiệm vụ hàng ngày của họ tại Toà án. Tôi cũng hy vọng cuốn Sổ tay Thẩm phán sẽ hữu ích cho các học viên thẩm phán, luật sư, sinh viên luật và những người khác quan tâm đến việc tìm hiểu luật pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam.
LỜI CÁM ƠN

Toà án Liên bang Ô-xtơ-rây- lia rất hân hạnh trợ giúp Dự án sửa đổi Sổ tay Thẩm phán dưới sự lãnh đạo của Ngài Chánh án Toà án nhân dân tối cao Trương Hoà Bình và Ngài Phó Chánh án Thường trực Đặng Quang Phương. Lần sửa đổi, bổ sung này là phần việc kế tiếp sau việc công bố cuốn Sổ tay Thẩm phán đầu tiên của ngành Toà án Việt Nam vào năm 2006. Sáu nghìn bản in cuốn Sổ tay Thẩm phán và một nghìn đĩa CD-ROM Sổ tay Thẩm phán đã được xuất bản và phân phát cho các Thẩm phán, cơ quan đào tạo tư pháp, trường đại học, trung tâm trợ giúp pháp lý, chi hội luật gia và viện kiểm sát trên toàn quốc.

Để bảo đảm một số lượng độc giả lớn nhất có thể tiếp cận được Sổ tay Thẩm phán, Sổ tay Thẩm phán cũng được xuất bản trên Internet [http://www.sotaythamphan.gov.vn], và sau này, tại trang chủ của Viện Thông tin pháp lý Châu Á [http://www.asianlii.org/vn/other/benchbk/].
 
Sau khi cuốn Sổ tay Thẩm phán được công bố, đã có hàng loạt những thay đổi trong lĩnh vực lập pháp và những thay đổi pháp luật khác cần phải được chuyển tải đến Thẩm phán và những người làm công tác pháp luật. Nhận thức rằng Sổ tay Thẩm phán là một nguồn thông tin pháp lý thực tiễn chuyên ngành cực kỳ hữu ích, Toà án nhân dân tối cao đã bày tỏ mong muốn sửa đổi, bổ sung cuốn Sổ tay Thẩm phán để cập nhật những thay đổi về pháp luật nói trên. Vì Sổ tay Thẩm phán lần đầu tiên được đưa ra tại Việt Nam, với sự giúp đỡ của Toà án nhân dân tối cao, Nhóm chuyên gia Dự án bao gồm Thẩm phán Michael Moore - Toà án Liên bang Ô-xtơ-rây-lia, bà Cate Sumner và ông Nguyễn Kiên Cường - Luật sư, Hãng luật Maddocks, đã thiết kế và tiến hành hàng loạt các đánh giá để thu thập ý kiến phản hồi từ các Thẩm phán và những người khác nhằm đánh giá xem việc sửa đổi, bổ sung các chương hiện tại của Sổ tay Thẩm phán có hữu ích và cần thiết hay không.
 
Năm 2007, Cơ quan phát triển quốc tế Ô-xtơ-rây-lia đã hỗ trợ Dự án sửa đổi Sổ tay Thẩm phán Việt Nam, tiếp theo những trợ giúp xây dựng Sổ tay Thẩm phán gốc từ năm 2004 đến năm 2006 trước đây.
 
Trong hai năm vừa qua, Toà án Liên bang Ô-xtơ-rây-lia đã may mắn được cộng tác với một nhóm các Thẩm phán và chuyên gia pháp luật Việt Nam tài năng và tận tâm trong việc sửa đổi Sổ tay Thẩm phán. Tất cả những sửa đổi trong cuốn Sổ tay Thẩm phán này đều được viết bởi các Thẩm phán và chuyên gia luật pháp Việt Nam có rất nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực của mình, bao gồm: Thẩm phán Phan Gia Quí, Thẩm phán Nguyễn Hoàng Đạt, Thẩm phán Đặng Xuân Đào, Thẩm phán Hoàng Thị Bắc, Thẩm phán Mai Bộ, và ông Ngô Cường, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế Toà án nhân dân tối cao. Tiến sỹ Đặng Quang Phương và ông Ngô Cường thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là biên tập lại tất cả các chương sửa đổi. Sổ tay Thẩm phán sửa đổi được xây dựng trên cơ sở một khối lượng công việc đáng kể của các tác giả cuốn Sổ tay Thẩm phán đầu tiên được công bố vào năm 2006, cũng như của những người khác đã giúp đỡ xây dựng cuốn sổ tay này.
 
Bà Cate Sumner, chuyên gia quốc tế cùng ông Nguyễn Kiên Cường, chuyên gia kiêm điều phối viên quốc gia của Dự án, đóng những vai trò rất quan trọng trong Dự án này. Dự án này đồng thời cũng được hỗ trợ chung bởi bà Helen Burrow - Giám đốc chương trình quốc tế của Tòa án liên bang Ô-xtơ-rây-lia, cô Dananthi Galapitage và sau này là cô Hannah Clua-Saunders.
 
Nhằm đạt được các mục tiêu của Dự án, Dự án đã bắt đầu bằng việc đánh giá tổng thể cuốn Sổ tay Thẩm phán. Mục đích của việc này là nhằm thu thập những ý kiến của các Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Toà án các tỉnh, huyện, Học viện Tư pháp, Hội luật gia trên toàn quốc, đặc biệt là tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, về hiệu quả của cuốn Sổ tay Thẩm phán và những vấn đề cần được xem xét trong khuôn khổ Dự án nhằm hoàn thiện nội dung Sổ tay Thẩm phán và quá trình cập nhật.
 
Việc đánh giá hiệu quả của cuốn Sổ tay Thẩm phán đã được tiến hành bằng việc Nhóm chuyên gia Dự án nghiên cứu 638 bản trả lời phiếu điều tra, tổ chức 24 cuộc phỏng vấn trực tiếp các Thẩm phán tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức hai cuộc hội thảo lấy ý kiến các Thẩm phán tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Phiếu điều tra, kết quả phỏng vấn và hội thảo đã vô cùng hữu ích trong việc cung cấp cho các tác giả và biên tập viên những thông tin, quan điểm cần đưa vào cuốn Sổ tay Thẩm phán được sửa đổi, bổ sung lần này.
 
Tháng 9 năm 2009, Toà án nhân dân tối cao và Nhóm chuyên gia Dự án sẽ tổ chức hai cuộc hội thảo đào tạo giảng viên tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội nhằm xây dựng năng lực cho đội ngũ 70-80 giảng viên của Trường cán bộ toà án, Toà án nhân dân tối cao và các trung tâm đào tạo khác. Với nhiệm vụ cung cấp các khoá đào tạo mang tính chất giới thiệu và đào tạo thường xuyên cho cán bộ Việt Nam, dự tính rằng các cơ quan đào tạo tư pháp chủ chốt này có thể đưa Sổ tay Thẩm phán điện tử vào giáo trình đào tạo tư pháp để giảng dạy trong tương lai. Toà án nhân dân tối cao sẽ tổ chức 22 hội thảo trong quý IV năm 2009 nhằm đào tạo sử dụng Sổ tay Thẩm phán cho các Thẩm phán đến từ 682 toà án quận, huyện và 63 tòa án tỉnh.
 
Ngoài bản in Sổ tay Thẩm phán, Dự án sẽ xuất bản 9.000 đĩa CD-ROM Sổ tay Thẩm phán sửa đổi, và phiên bản Internet của Sổ tay Thẩm phán sẽ được đưa vào cổng thông tin điện tử riêng của Toà án nhân dân tối cao [http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/ebb]. Những phiên bản điện tử này cho phép Toà án nhân dân tối cao có thể cập nhật nhanh chóng, không tốn kém Sổ tay Thẩm phán trực tuyến, và có thể gửi thư điện tử phần cập nhật cho các Toà án khác. Một trong những mục tiêu của Dự án này là trợ giúp Tòa án nhân dân tối cao xây dựng một trình tự cập nhật để đảm bảo rằng Sổ tay Thẩm phán sẽ được cập nhật thường xuyên. Thẩm phán tại tất cả các Toà án tỉnh, cũng như tại các toà án quận, huyện tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có thể truy cập Internet qua máy tính được lắp đặt tại toà án của họ theo các chương trình tài trợ khác (chương trình này dự tính sẽ được mở rộng xuống các Toà án cấp huyện trong những năm tới).
 
Có nhiều cá nhân đã tham gia vào việc sửa đổi, bổ sung Sổ tay Thẩm phán lần nay. Tôi xin cảm ơn các cán bộ của Vụ Hợp tác quốc tế, Toà án nhân dân tối cao, đặc biệt là ông Chu Trung Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và ông Trần Ngọc Thành, chuyên viên Vụ Hợp tác quốc tế. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn nhóm công nghệ thông tin của Tòa án nhân dân tối cao, đặc biệt là ông Nguyễn Văn Thương, cảm ơn ông Nguyễn Văn Duyên và ông Lê Tiến đã dịch thuật rất tốt các phần sửa đổi; cảm ơn ông Lâm Chí Dũng - điều phối viên cuốn Sổ tay Thẩm phán trực tuyến; cảm ơn ông Nguyễn Văn Sơn và ông Nguyễn Sỹ Sơn của Công ty Tinh Vân - những người đã chuyển thành công Sổ tay Thẩm phán trực tuyến vào cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tối cao; cảm ơn ông Nguyễn Quang Anh, Quản lý chương trình - AusAID, ông John Bently - cố vấn trưởng pháp luật của Dự án hỗ trợ thúc đẩy thương mại (STAR Vietnam), ông Nicholas Booth, Chương trình phát triển của Liên hợp quốc, bà Frances Gordon - Giám đốc và bà Bùi Thị Bích Liên - Phó Giám đốc Dự án phát triển tư pháp và sự tham gia của cơ sở (Dự án JUDGE) đã chia sẻ kinh nghiệm với chúng tôi. Xin đặc biệt cảm ơn dự án JUDGE đã hào phóng cho phép nhóm Dự án sử dụng văn phòng và thiết bị của Dự án tại Hà Nội.
 
                                                                             Thẩm phán Michael Moore
 
                                                                              Toà án Liên bang Ô-xtơ-rây-lia
 
                                                                                 Tháng 9 năm 2009

 

SỬ DỤNG, CẬP NHẬT VÀ GÓP Ý SỔ TAY THẨM PHÁN

Lời giới thiệu

Cuốn Sổ tay Thẩm phán này được xuất bản dưới ba hình thức: i) Sổ tay dạng in ấn trang rời (bìa cứng); ii) Sổ tay điện tử ghi trên đĩa CD-ROM; và iii) Sổ tay điện tử trên Internet. Sổ tay in ấn trang rời được Tòa án nhân dân tối cao phát cho Thẩm phán và những người khác có nhu cầu sử dụng hàng ngày nhưng không sử dụng được Sổ tay điện tử. Sổ tay điện tử ghi trên CD-ROM dành cho người dùng sử dụng máy tính thường xuyên nhưng không có truy cập Internet và sổ tay điện tử trên Internet dành cho người dùng có điều kiện truy cập Internet. Sổ tay điện tử có định dạng phục vụ cho việc in ấn (một phần hoặc toàn bộ) và người đọc có thể in ra khi cần.

Để cuốn Sổ tay Thẩm phán được hoàn thiện hơn, Tòa án nhân dân tối cao rất mong người sử dụng cuốn Sổ tay này đóng góp ý kiến về nội dung thông qua thư điện tử hoặc đường bưu điện. Tòa án nhân dân tối cao sẽ thường xuyên cập nhật các ý kiến góp ý của độc giả trên các phiên bản của cuốn Sổ tay. Tòa án nhân dân tối cao đánh giá cao ý kiến đóng góp và sự hợp tác của quý độc giả để cuốn Sổ tay Thẩm phán này đóng góp ngày càng hiệu quả hơn cho việc nâng cao kỹ năng xét xử của các Thẩm phán.

Quý vị có thể gửi ý kiến của mình theo:

Địa chỉ Email: gopy@sotaythamphan.gov.vn

hoặc địa chỉ bưu điện:

Dự án Sổ tay Thẩm phán

Vụ Hợp tác quốc tế - Toà án nhân dân tối cao

48 Lý Thường Kiệt, Hà Nội

Thư điện tử: lrp_spc@netnam.vn

hoặc góp ý trực tiếp trên Internet

Đối với Sổ tay điện tử trên Internet, quý vị có thể gửi thư điện tử bằng cách kích chuột vào nút “Phản hồi” trên thanh công cụ. Sau đó, quý vị sẽ thấy xuất hiện một thư điện tử để trống và quý vị có thể viết nội dung vào (hoặc quý vị có thể nhập ý kiến đóng góp vào một file word và đính kèm vào thư điện tử rồi gửi đi) rồi khi quý vị kích chuột vào nút “Gửi” thì thư đó sẽ được chuyển ngay đến Tòa án nhân dân tối cao.

Sử dụng Sổ tay Thẩm phán

Sổ tay Thẩm phán bao gồm các mục về việc xử lý các loại vụ án phổ biến mà Thẩm phán Việt Nam có thể phải xử lý và cả các loại vụ án đặc thù. Cuốn Sổ tay áp dụng một cách trình bày thống nhất, trước hết trình bày những công việc mà một Thẩm phán cần thực hiện, sau đó liệt kê các luật áp dụng (bao gồm bộ luật, pháp lệnh, nghị định, hướng dẫn, quyết định, và quy định) và đưa ra các hướng dẫn thực tiễn. Với Sổ tay điện tử ghi trên CD-ROM và Sổ tay điện tử trên Internet, quý vị có thể kích chuột vào phần tham chiếu tới các luật áp dụng (được đánh dấu bằng màu xanh dương) và dễ dàng xem được văn bản luật đó. Các kỹ năng chi tiết hơn về việc sử dụng bản điện tử có thể được tìm thấy bằng cách kích chuột vào nút “Trợ giúp” trên thanh công cụ.

Các phương pháp cập nhật

Sổ tay là một tài liệu mang tính động. Sổ tay dạng in và Sổ tay trên Internet sẽ được cập nhật ngay khi các luật áp dụng thay đổi hoặc khi thấy cần thiết phải chỉnh sửa hoặc hoàn thiện hơn các phần nội dung của Sổ tay.

(1) Sổ tay in ấn trang rời

Thẩm phán và những người khác đã nhận được Sổ tay in ấn trang rời từ Tòa án nhân dân tối cao sẽ được cung cấp cho các trang mới được cập nhật theo thời gian và chỉ cần sắp xếp các trang đó vào đúng vị trí trong bìa cứng của Sổ tay rồi bỏ đi các trang cũ không còn cần thiết. Những hướng dẫn cụ thể sẽ được gửi kèm với mỗi lần cập nhật, khi phải thêm vào và bỏ đi các trang. Ban đầu, các trang mới được cập nhật sẽ được gửi thông qua tòa án cấp tỉnh, thành phố có khả năng nhận thư điện tử. Các tòa án này sẽ in ra các trang đó, sao chụp và phát cho cán bộ tòa án của mình, đồng thời gửi cho các tòa án cấp quận, huyện thuộc tỉnh, thành phố đó. Cuối mỗi cuốn Sổ tay có một mục ghi lại “Lịch biểu cập nhật”. Mục này sẽ được cập nhật khi các trang thuộc các mục khác được cập nhật. Các trang mới được cập nhật sẽ có một chú thích nhỏ ở cuối trang, ghi rõ ngày, tháng, năm mà trang đó được cập nhật. Quý vị có thể xem chú thích này để xác định thời gian cập nhật gần đây nhất của từng trang cụ thể.

(2) Sổ tay điện tử ghi trên CD ROM

Trong trường hợp cần thiết, Sổ tay điện tử ghi trên CD-ROM sẽ được cập nhật, in ra đĩa CD-ROM và phân phát.

(3) Sổ tay điện tử trên Internet

Sổ tay điện tử trên Internet sẽ được Tòa án nhân dân tối cao cập nhật định kỳ. Để xác định thời gian cập nhật mới nhất của một mục, quý vị nên xem phần ghi chú “Ngày cập nhật mới nhất” ở góc dưới bên phải cuối mỗi mục, hoặc truy cập mục “Lịch biểu cập nhật” bằng cách kích chuột vào nút “Lịch biểu cập nhật” trên thanh công cụ của trang chủ. Mục “Lịch biểu cập nhật” ghi lại thời gian cập nhật mới nhất của từng mục.

Lịch biểu cập nhật - Danh sách các cập nhật được thực hiện trong Sổ tay Thẩm phán

Danh sách các thay đổi mới nhất trong Sổ tay Thẩm phán sẽ được đưa lên trang web của Sổ tay Thẩm phán http://www.toaan.gov.vn/portal/page/portal/ebb dưới mục “Lịch biểu cập nhật” và gồm có:

(i)      các thay đổi theo thứ tự thời gian đối với các mục của Sổ tay, từ mới nhất trở đi

(ii)     danh sách gồm tên các mục và ngày mà từng mục cụ thể được cập nhật. 

Bản đầu tiên của Sổ tay Thẩm phán được hoàn thành trong tháng 6 năm 2006 và Sổ tay Thẩm phán sửa đổi được hoàn thành vào tháng 9 năm 2009.

NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN DỰ ÁN SỔ TAY THẨM PHÁN

Biên tập (Sổ tay Thẩm phán (STTP) đầu tiên và Sổ tay Thẩm phán sửa đổi)

1. Tiến sỹ Đặng Quang Phương- Phó Chánh án thường trực – Tòa án nhân dân tối cao

2.  Ông Ngô Cường – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế – Tòa án nhân dân tối cao

Tác giả:

1. Thẩm phán Đặng Xuân Đào- Chánh toà Tòa kinh tế - Toà án nhân dân tối cao (STTP đầu tiên và STTP sửa đổi)

2. Thẩm phán Hoàng Thị Bắc – Tòa lao động Tòa án nhân dân tối cao (STTP đầu tiên và STTP sửa đổi)

3. Thẩm phán Nguyễn Mai Bộ - Tòa án quân sự trung ương (STTP sửa đổi)

4. Thẩm phán Phan Gia Quí – Chánh tòa Tòa kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (STTP sửa đổi)

5. Thẩm phán Nguyễn Hoàng Đạt – Phó Chánh tòa Tòa dân sự Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (STTP sửa đổi)

6. Ông Ngô Cường - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Toà án nhân dân tối cao (STTP sửa đổi)

7. Thẩm phán Chu Xuân Minh – Phó Chánh toà Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao (STTP đầu tiên)

8. Tiến sỹ Nguyễn Văn Dũng – Phó Giám đốc Học viện Tư pháp - Bộ Tư pháp (STTP đầu tiên)

9. Thẩm phán Nguyễn Sơn – Chánh án Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội (STTP đầu tiên)

10. Thẩm phán Trần Thị Hạnh – Chánh án Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (STTP đầu tiên)

11. Luật sư Dương Quốc Thành (nguyên Thẩm phán Toà án nhân dân thành phố Hà Nội) (STTP đầu tiên).

Chuyên gia quốc tế (STTP đầu tiên và STTP sửa đổi):

1. Thẩm phán Michael Moore, Toà án Liên bang Ôx-tơ-rây-lia

2. Bà Cate Sumner

Chuyên gia kiêm Điều phối viên Dự án (STTP sửa đổi): Ông Nguyễn Kiên Cường - Luật sư, Hãng luật Maddocks, Melbourne

Cán bộ Dự án của Toà án nhân dân tối cao (STTP sửa đổi): Ông Chu Trung Dũng, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Toà án nhân dân tối cao

Trợ lý Dự án của Toà án nhân dân tối cao (STTP sửa đổi): Ông Trần Ngọc Thành, chuyên viên, Vụ Hợp tác quốc tế, Toà án nhân dân tối cao

Phiên dịch (STTP sửa đổi): Ông Lê Tiến và ông Nguyễn Văn Duyên

Cán bộ điều phối Dự án (STTP đầu tiên): Ông Phan Nguyên Toàn, LEADCO

Cán bộ Dự án Toà án nhân dân tối cao (STTP đầu tiên):

1.  Bà Bùi Thị Nhàn - Chuyên viên Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao

2. Bà Nguyễn Thị Mai - Chuyên viên Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao.

Phụ trách IT (STTP đầu tiên và STTP sửa đổi): Ông Lâm Chí Dũng

Hiệu đính bản điện tử (STTP đầu tiên): Ông Nguyễn Kiên Cường

Trợ lý Dự án (STTP đầu tiên): Bà Phạm Thúy Ngọc, LEADCO

Phiên dịch (STTP đầu tiên): Bà Trần Thu Phương, LEADCO

DANH MỤC VBQPPL VÀ TÊN VIẾT TẮT
Untitled Document

BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

 SỬ DỤNG TRONG SỔ TAY THẨM PHÁN VÀ TÊN VIẾT TẮT

TT

Tên văn bản

Tên viết tắt

I/

Các văn bản do Quốc hội ban hành

 

1

Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Hiến pháp năm 1992

2
Bộ luật lao động năm 1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006 và 2007)
3
Bộ luật dân sự năm 1995
4
Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
5
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
6
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
7
Bộ luật dân sự năm 2005
8
Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2005
9
Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946 tổ chức các tòa án và các ngạch thẩm phán
 
10
Luật hôn nhân và gia đình năm 1959
11
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
12
Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2003)
13
Luật các tổ chức tín dụng 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004)
14
Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004 và 2005)
15
Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000
16
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
17
Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002
18
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
19
Luật xây dựng năm 2003
20
Luật đất đai năm 2003 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
21
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004
22
Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004
23
Luật phá sản năm 2004
24
Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005
25
Luật doanh nghiệp năm 2005
26
Luật đường sắt năm 2005
27
Luật nhà ở năm 2005
28
Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
29
Luật thương mại năm 2005
30
Luật đầu tư 2005
31
Luật chứng khoán năm 2006
32
Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006
33
Luật luật sư năm 2006
34
Luật giao thông đường bộ năm 2008
35
Luật cán bộ, công chức 2008
36
Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình
37
Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15-6-2004 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự
II/
Các văn bản do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
 
1
Pháp lệnh thừa kế năm 1990
2
Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991
3
Pháp lệnh nhà ở năm 1991
4
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2006)
5
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 được sửa đổi, bổ sung năm 200 và 2003
6
Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 2002
7
Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 2002
8
Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003
9
Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004
10
Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển năm 2008
11
Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009
12
Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20-8-1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về giao dich dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-7-1991 
13
Nghị quyết số 354/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 25-02-2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc phê chuẩn bộ máy giúp việc của các tòa án nhân dân địa phương
14
Nghị quyết số 532/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 25-02-2003 về việc phê chuẩn bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao
Nghị quyết số 532/2003/NQ-UBTVQH11
15
Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-7-1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia
16
Nghị quyết số 1113/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 20-4-2007 về việc phê chuẩn Quyết định số 133/QĐ-TCCB ngày 29-01-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc thành lập mới hai (02) đơn vị cấp Vụ thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao 
III/
Các văn bản do Chính phủ ban hành
 
1
Quyết định số 297/CT ngày 02-10-1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết một số vấn đề về nhà ở
 
2
Nghị quyết 76/CP ngày 25-3-1977 về công bố danh mục văn bản pháp luật áp dụng trong cả nước
Nghị quyết 76/CP ngày 25-3-1977
3
Nghị định số 41/CP ngày 06-7-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
4
Nghị định số 47/CP ngày 12-8-1996 của Chính phủ về quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
5
Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10-3-2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm
6
Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30 -10-2000 của Chính phủ “Quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ 
7
Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30-10-2000 của Chính phủ “Quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo”
8
Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02-5-2001 của Chính phủ quy định “về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính”
9
Nghị định số 31/2001/NĐ-CP ngày 26-6-2001 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá thông tin
10
Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01-8-2001 quy định chế độ tài chính đối với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
11
Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01-10-2001 của Chính phủ về danh mục các chất ma túy và tiền chất
12
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03-10-2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình
13
Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 20-10-2001 của Chính phủ quy định chi tiết về việc đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội
14
Nghị định 81/2001/CP-NĐ ngày 05-11-2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam
15
Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31-12-2002 của Chính phủ về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp
16
Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02-4-2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06-7-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và
17
Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về hợp đồng lao động
18
Nghị định số 105/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
19
Nghị định số 133/2003/NĐ-CP ngày 06-11-2003 của Chính phủ bổ sung một số chất vào danh mục các chất ma túy và tiền chất
20
Nghị định số 25/2004/NĐ-CP ngày 15-01-2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Trọng tài thương mại
21
Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16-12-2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng
22
Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19-5-2005 của Chính phủ “sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính”
23
Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19-5-2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giám định tư pháp
24
Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06-6-2005 về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù
25
Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23-01-2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại
26
Nghị định số 46/2006/NĐ-CP ngày16-5-2006 của Chính phủ về xử lý hàng hóa do người vận chuyển lưu giữ tại cảng biển Việt Nam
27
Nghị định số 52/2006/NĐ-CP ngày 19-5-2006 của Chính phủ về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp
28
Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11-7-2006 của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của tổ quản lý, thanh lý tài sản
29
Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh
30
Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 09-6-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở
31
Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21-9-2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
32
Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
33
Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
34
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
45
Nghị định số 139/2007/NĐ-CP ngày 05-9-2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp
36
Nghị định số 45/2007/NĐ-CP ngày 27-3-2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm
37
Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13-6-2007 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
38
Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18-4-2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP
39
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12-02-2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
IV/
Các văn bản liên tịch giữa các bộ, ngành
 
1
Thông tư liên tịch số 03/TTLN ngày 10-8-1996 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao
2
Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản
3
Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-01-1999của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01-7-1991
4
Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25-9-2001 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các quy định tại Chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật hình sự năm 1999
5
Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999
6
Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tổng cục địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất
7
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN ngày 01-4-2003 của Toà án nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng, Bộ nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt nam hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân
8
Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18-4-2005 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
9
Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP-BCA-BTC ngày 17-6-2005 của Tòa án nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt, án phí
10
Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01-9-2005 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự và sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ việc dân sự’
11
Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT-BCA-BQP-BYT-TANDTC-VKSNDTC ngày 18-05-2006 của Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế hướng dẫn thi hành một số quy định về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người bị bệnh nặng
12
Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999
13
Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKHCN-BTP ngày 03-4-2008 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
14
Thông tư liên tịch số 19/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 19-02-2008 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự và tổ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản
V/
Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
 
1
Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần các tội phạm của BLHS
2
Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế
3
Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999
4
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23-12-2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình
5
Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15-3-2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của các Điều 139, 193, 194, 278, 279, và 289 Bộ luật hình sự 1999”
6
Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình
7
Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
8
Nghị quyết số 05/2003/NQ-HĐTP ngày 31-7- 2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại
9
Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình
10
Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02-10-2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
11
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05-11-2004 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự
12
Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004
13
Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định tại chương VIII "Các biện pháp khẩn cấp tạm thời" của Bộ luật tố tụng dân sự
14
Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật phá sản
15
Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17-9-2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về “Chứng minh và chứng cứ”
16
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08-12-2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS
17
Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
18
Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm" của Bộ luật tố tụng dân sự
19
Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
20
Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh TTGQCVAHC
21
Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04-8-2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định trong Phần thứ ba "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm" của Bộ luật tố tụng dân sự
22
Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02-10-2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt
23
Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 20-10-2007 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ năm "Thi hành bản án và quyết định của Tòa án" của Bộ luật tố tụng hình sự
VI/
Thông tư, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao, các bộ, ngành
 
24
Thông tư số 60/TATC ngày 20-2-1978 của Toà án nhân dân tối cao
 
25
Thông tư số 81/TANDTC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao
26
Thông tư số 12/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30-5-2003 của Bộ lao động, thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31-12-2002 của Chính phủ về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp nhà nước
27
Thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30-5-2003 của Bộ lao động, thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31-12-2002 của Chính phủ về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp
28
Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10-9-2003 của Bộ Công an “Hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an”
29
Thông tư số 19/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22-9-2003 của Bộ lao động, thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 41/CP ngày 06-7-1995 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 33/2003/NĐ-CP ngày 02-4-2003 của Chính phủ
30
Thông tư số 21/TT-BLĐTBXH ngày 22-9-2003 của Bộ lao động, thương binh và xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09-5-2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động
 31
Thông tư số 01/2005/TT-BTC ngày 04-01-2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp phép, thay đổi nội dung giấy phép, đăng ký hoạt động trung tâm trọng tài, đăng ký hoạt động chi nhánh của trung tâm trọng tài và lệ phí toà án liên quan đến trọng tài
32
Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14-02-2009 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22-9-2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp
33
Thông tư số 01/2008/TT-BKHCN ngày 25-02-2008 của Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn việc cấp, thu hồi Thẻ giám định viên sở hữu công nghiệp và Giấy chứng nhận tổ chức đủ điều kiện hoạt động giám định sở hữu công nghiệp
34
Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31-12-2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc công bố Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (Chuẩn mực số 04-Tài sản cố định vô hình)
35
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (trong mục này viết tắt là Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN)
36
Quyết định số 16/2003/TCCB ngày 17-02-2003 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định về bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao
Quyết định số 16/2003/TCCB
37
Quyết định số 17/2003/TCCB ngày 17-02-2003 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định về bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân địa phương
Quyết định số 17/2003/TCCB ngày 17-02-2003
38
Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-02-2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN (trong mục này viết tắt là Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN)
39
Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31-5-2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 1 Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-02-2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN (trong mục này viết tắt là Quyết định số 783/2005/QĐ-NHNN)
40
Quyết định số 63/2006/QĐ-NHNN ngày 29-12-2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
41
Quyết định số 810/2006/QĐ–BCA(C11) ngày 04-07-2006 của Bộ trưởng Bộ Công an
42
Quyết định số 133/QĐ-TCCB ngày 29-01-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc thành lập mới hai (02) đơn vị cấp Vụ thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao
Quyết định số 133/QĐ-TCCB
43
Quyết định số 1099/2008/QĐ-NHNN ngày 16-5-2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản và mức lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam
VII/
Các văn bản khác
 
1
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020”
Nghị quyết số 49-NQ/TW
2
Tuyên bố Bắc Kinh về độc lập tư pháp
 
3
Tuyên ngôn nhân quyền
 
4
Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
 
5
Công văn số 77/2003/HĐTP ngày 27-6-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
6
Quy định số 75/QĐ-TW ngày 25-04-2000 của Bộ chính trị
7
Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10-06-2002 của tòa án nhân dân tối cao giải đáp về nghiệp vụ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
 STT
 Cụm từ
 Viết tắt
1
Bắt giữ tàu biển
BGTB
2
Biện pháp khẩn cấp tạm thời
BPKCTT
3
Giám đốc thẩm
GĐT
4
Hợp đồng lao động
HĐLĐ
5
Hội đồng xét xử
HĐXX
6
Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm
Hội đồng GĐT, TT
7
Hội thẩm nhân dân
HTND
8
Hợp tác xã
HTX
9
Khiếu nại hàng hải
KNHH
10
Người lao động
NLĐ
11
Người sử dụng lao động
NSDLĐ
12
Tòa án nhân dân
TAND
13
Tòa án nhân dân tối cao
TANDTC
14
Tòa án quân sự
TAQS

 

PHẦN THỨ NHẤT - TOÀ ÁN NHÂN DÂN VÀ THẨM PHÁN, HỘI THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN

 

1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Là cán bộ Toà án, đặc biệt là người Thẩm phán cần nắm chắc hệ thống Toà án nhân dân; vị trí, vai trò của Toà án nhân dân trong bộ máy nhà nước; chức năng, nhiệm vụ của Toà án nhân dân; những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân.

VBQPPL
Hiến pháp năm 1992 (Điều 127)
Luật tổ chức TAND (Điều 2)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

Theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức TAND  thì ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có các Toà án sau đây:

  • Toà án nhân dân tối cao;
  • Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
  • Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
  • Các Toà án quân sự;
  • Các Toà án khác do luật định.    
Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt.
VBQPPL
Luật tổ chức TAND (Điều 18)
Nghị quyết số 1113/2007/NQ-UBTVQH11
Nghị quyết số 352/2003/NQ-UBTVQH11

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật tổ chức TAND thì cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao gồm có:

  • Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
  • Toà án quân sự trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính và các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao (Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng và Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh); trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao;
  • Bộ máy giúp việc

Theo Quyết định số 16/2003/TCCB ngày 17-02-2003 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định về bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao, được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Nghị quyết số 352/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 25-02-2003 về việc phê chuẩn bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao và theo Quyết định số 133/2007/QĐ-TCCB ngày 29-01-2007 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) về việc thành lập mới hai (02) đơn vị cấp Vụ thuộc bộ máy giúp việc của TANDTC, được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Nghị quyết số 1113/2007/NQ-UBTVQH11 ngày 20-4-2007 thì bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tối cao gồm có: Ban Thư ký; Ban Thanh tra; Vụ Tổ chức - Cán bộ; Vụ Kế hoạch - Tài chính; Vụ Hợp tác quốc tế ; Vụ Thống kê – Tổng hợp; Văn phòng; Viện Khoa học xét xử; Tạp chí Toà án nhân dân; Báo Công lý; Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm và cán bộ ngành Toà án.

 

VBQPPL
Luật tổ chức TAND(Điều 27)
Nghị quyết số 354/2003/NQ-UBTVQH11

Công việc chính và kỹ năng thực hiện

  -     Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính; trong trường hợp cần thiết Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các Toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao;

-     Uỷ ban Thẩm phán;

          -    Bộ máy giúp việc

Theo Quyết định số 17/2003/TCCB ngày 17-02-2003 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định về bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân địa phương, được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Nghị quyết số 354/2003/NQ-UBTVQH11ngày 25-02-2003, thì bộ máy giúp việc của Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm có: Văn phòng; Phòng Giám đốc kiểm tra; Phòng Tổ chức - Cán bộ.

VBQPPL:
Luật tổ chức TAND (Điều 32)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 

 

 

 

VBQPPL:
Luật tổ chức TAND (Điều 34)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật tổ chức TANDĐiều 2 Pháp lệnh tổ chức TAQS, thì các Toà án quân sự gồm có:

  •  Toà án quân sự trung ương;
  •  Các Toà án quân sự quân khu và tương đương;
  •  Các Toà án quân sự khu vực.
  •  Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Toà án nhân dân. Do vậy, Toà án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước.
  • Toà án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”.
  • Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Toà án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
  • Toà án nhân dân là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm.

 

 

 

  •  Toà án xét xử những vụ án hình sự; những vụ án dân sự (bao gồm những tranh chấp về dân sự; những tranh chấp về hôn nhân và gia đình; những tranh chấp về kinh doanh, thương mại; những tranh chấp về lao động); những vụ án hành chính.
  •  Toà án giải quyết những việc dân sự (bao gồm những yêu cầu về dân sự; những yêu cầu về hôn nhân và gia đình; những yêu cầu về kinh doanh, thương mại; những yêu cầu về lao động); giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp; xem xét và kết luận cuộc đình công hợp pháp hay không hợp pháp.
  •  Toà án giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật (quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại tại Trọng tài; ra quyết định thi hành án hình sự; hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; ra quyết định miễn chấp hành hình phạt hoặc giảm mức hình phạt đã tuyên; ra quyết định xoá án tích v.v.).
  •  Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.
  •  Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những nguyên tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác. 
VBQPPL:
Hiến pháp năm 1992 (các điều 12, 129, 130, 131 và 133 )
Luật tổ chức TAND (các điều 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11)
BLTTHS (các điều 185, 244 và 281)
PLTTGQCVAHC (Điều 15)
BLTTDS (các điều 52, 53 và 54)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  •  Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 12 Hiến pháp năm 1992): Đây là nguyên tắc chỉ đạo, bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả các hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân nói riêng. Trong hoạt động xét xử, để bảo đảm cho nguyên tắc này không bị vi phạm, đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND) phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ các quy định của pháp luật tố tụng đến các quy định của pháp luật về nội dung.
  • Việc xét xử của Toà án nhân dân có HTND tham gia, việc xét xử của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 129 Hiến pháp năm 1992; Điều 4 Luật tổ chức TAND). Tuỳ từng loại vụ án cụ thể mà nguyên tắc này được quy định tại các điều luật tương ứng của BLTTHS, BLTTDS, Pháp lệnh tổ chức TAQS, PLTTGQCVAHC.

Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán cần được hiểu là khi xét xử bất kỳ một vụ án nào thuộc thẩm quyền của Toà án mà có Hội thẩm tham gia, thì Hội thẩm và Thẩm phán có quyền ngang nhau trong việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, không phân biệt vấn đề đó là về mặt tố tụng hay về mặt nội dung.

-   Thứ nhất là khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không bị ràng buộc bởi kết luận của Viện kiểm sát, không bị chi phối bởi ý  kiến của nhau. Thẩm phán, Hội thẩm phải chịu trách nhiệm đối với ý kiến của mình về từng vấn đề của vụ án.
-   Thứ hai là Thẩm phán và Hội thẩm độc lập cũng có nghĩa là không một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm.
-   Cần chú ý là sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử phải gắn liền với việc tuân thủ pháp luật. 
-   Toà án xét xử tập thể có nghĩa là việc xét xử bất cứ một vụ án nào, theo trình tự nào cũng do một Hội đồng thực hiện. Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) ở mỗi cấp xét xử đối với từng loại vụ án được quy định tại các điều tương ứng trong pháp luật tố tụng; cụ thể như sau:
-     Đối với vụ án hình sự:        
 +    Thành phần HĐXX sơ thẩm (Điều 185 BLTTHS);
 +    Thành phần HĐXX phúc thẩm (Điều 244 BLTTHS); 
 +    Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm  (Hội đồng GĐT, TT) (Điều 281 BLTTHS).
-     Đối với vụ án dân sự (các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động):
                     +    Thành phần HĐXX sơ thẩm (Điều 52 BLTTDS);
 +    Thành phần HĐXX phúc thẩm (Điều 53 BLTTDS);
 +    Thành phần Hội đồng GĐT, TT  (Điều 54 BLTTDS).
-     Đối với vụ án hành chính: thành phần HĐXX sơ thẩm; thành phần HĐXX phúc thẩm; thành phần Hội đồng GĐT, TT (Điều 15 PLTTGQCVAHC). 
  • Toà án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 8 Luật tổ chức TAND).
  • Toà án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước Toà án (Điều 133 Hiến pháp năm 1992; Điều 10 Luật tổ chức TAND).
  • Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng tại Toà án là tiếng Việt; do đó, trong trường hợp có người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt thì cần phải có người phiên dịch.
  • Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 11 Luật tổ chức TAND).
VBQPPL:
BLTTHS (các điều 9, 10, 11 và 57 )
BLTTDS (các điều 5, 6, 8, 9 và 10)
PLTTGQCVAHC ( các điều 3, 5, 20 và 23)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

  • Trong tố tụng hình sự:
-     Bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo. Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình (Điều 11 BLTTHS). Cần chú ý là trong một số trường hợp Toà án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị cáo hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình (khoản 2 Điều 57 BLTTHS);
-     Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9 BLTTHS);
-     Xác định sự thật của vụ án (Điều 10 BLTTHS). Khi xét xử Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo;
-     Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về người tiến hành tố tụng, trong đó có Thẩm phán, HTND. Bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
  •  Trong tố tụng dân sự:
-     Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS);
-     Cung cấp chứng cứ và chứng minh là quyền và nghĩa vụ của đương sự (Điều 6 BLTTDS). Toà án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp BLTTDS có quy định;
-     Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự (Điều 8 BLTTDS);
-     Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 9 BLTTDS);
-     Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS (Điều 10 BLTTDS).
  •  Trong tố tụng hành chính:  
    -     Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 20 PLTTGQCVAHC);
    -     Cung cấp chứng cứ và chứng minh là quyền và nghĩa vụ của đương sự (Điều 5 PLTTGQCVAHC);
    -     Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính (Điều 20 PLTTGQCVAHC);
    -     Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự (Điều 23 PLTTGQCVAHC);
    -     Toà án không tiến hành hoà giải, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Toà án tạo điều kiện để các bên có thể thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án (Điều 3 PLTTGQCVAHC). 
2. THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Cần nắm chắc tiêu chuẩn Thẩm phán, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán, nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán.

 

 


VBQPPL:
Pháp lệnh TP&HT TAND (Điều 5)
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 

 

-    Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa phải là:

 +    Không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

+    Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, các chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng;

+    Kiên quyết đấu tranh chống lại những người, những hành vi có hại đến Đảng, đến Tổ quốc và nhân dân;
+    Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền;
+    Có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, bảo vệ công lý;
+    Không thuộc trường hợp quy định tại Điều 2 Chương I của Quy định số 75/QĐ-TW ngày 25-4-2000 của Bộ Chính trị; 
+    Không làm những việc quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh TP&HT TAND;
+    Chưa bao giờ bị kết án (kể cả trường hợp đã được xoá án tích). 
 

 

-     “Đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử” là phải có chứng chỉ về đào tạo nghiệp vụ xét xử do cơ quan có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp cấp; nếu là chứng chỉ do các cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp thì phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận;

 
-     “Thời gian làm công tác pháp luật” là thời gian công tác kể từ khi được xếp vào một ngạch công chức bao gồm Thư ký Toà án, Thẩm tra viên, Chấp hành viên, Chuyên viên hoặc Nghiên cứu viên pháp lý, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Công chứng viên, Thanh tra viên, cán bộ bảo vệ an ninh trong Quân đội, cán bộ pháp chế, giảng viên về chuyên ngành luật. Thời gian được bầu hoặc cử làm Hội thẩm, thời gian làm Luật sư cũng được coi là “thời gian làm công tác pháp luật”;
 
-     “Có năng lực làm công tác xét xử” là có khả năng hoàn thành tốt công tác xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án cấp tương ứng mà người đó có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán theo nhận xét, đánh giá của cơ quan, đơn vị quản lý công chức hoặc có những bài viết, công trình nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật có giá trị được công bố hoặc được áp dụng vào thực tiễn;

-     “Có sức khoẻ hoàn thành nhiệm vụ được giao” là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, ngoài thể lực cần thiết, còn bao gồm yếu tố ngoại hình, đó là không có dị tật, dị hình ảnh hưởng trực tiếp đến tư thế hoặc việc thực hiện nhiệm vụ của người Thẩm phán;

 -     Đối với người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị xem xét xử lý kỷ luật, nhưng chưa có quyết định giải quyết cuối cùng của người hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, thì chưa có đủ điều kiện để có thể được đề nghị tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.

 

 -     “Có trình độ cử nhân luật” là phải có bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật do các trường đại học trong nước có chức năng đào tạo đại học về chuyên ngành luật theo quy định cấp; nếu văn bằng tốt nghiệp đại học về chuyên ngành luật do cơ sở đào tạo của nước ngoài cấp, thì văn bằng đó phải được công nhận ở Việt Nam theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam;

 

 

 
VBQPPL:
Pháp lệnh TP&HT TAND (các điều 20, 21 và 23)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện :

VBQPPL
Pháp lệnh TP&HT TAND(các điều 26, 27 và 28)
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN (Phần III)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

VBQPPL:
Pháp lệnh TP&HT TAND (các điều 15 và 29)
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN (Phần IV)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 

VBQPPL
Pháp lệnh TP&HT TAND (các điều 9, 10, 11, 12, 15 và 16)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện :

-     Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm;
-     Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật;
-     Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án;
-     Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền;
-     Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định (Điều 15 Pháp lệnh TP&HT TAND).
  • Thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định (Điều 16 Pháp lệnh TP&HT TAND).
  • Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán, Hội thẩm có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ.
  • Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ (khoản 2 Điều 10 Pháp lệnh TP&HT TAND).
VBQPPL:
BLTTHS (Điều 39)
BLTTDS (Điều 41)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

VBQPPL
BLTTHS (các điều 12 và 32)
BLTTDS (Điều 13)
Pháp lệnh TP&HT TAND (các điều 7, 10, 13 và 14)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

3. HỘI THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Cần nắm chắc tiêu chuẩn Hội thẩm Toà án nhân dân; bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Toà án nhân dân; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của HTND.


VBQPPL
Pháp lệnh TP&HT TAND (Điều 5)
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

-     Không có bất kỳ hành vi nào gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, nền quốc phòng toàn dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
-     Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật, các chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng;
-     Kiên quyết đấu tranh chống lại những người, những hành vi có hại đến Đảng, đến Tổ quốc và nhân dân;
-     Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền;
-     Có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình, bảo vệ công lý;
-     Không thuộc trường hợp quy định tại Điều 2 Chương I của Quy định số 75/QĐ-TW ngày 25-4-2000 của Bộ Chính trị;
-     Không làm những việc quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh TP&HT TAND;
-     Chưa bao giờ bị kết án (kể cả trường hợp đã được xoá án tích).
VBQPPL
Pháp lệnh TP&HT TAND (Điều 5)
Thông tư liên tịch số 01/2003/TTLT-TANDTC-BQP-BNV-UBTWMTTQVN

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 

VBQPPL
Pháp lệnh TP&HT TAND (Điều 38)

 

 

 

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

VBQPPL
Pháp lệnh TP&HT TAND (các điều 38 và 41)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 

VBQPPL
Pháp lệnh TP&HT TAND (các điều 32, 33, 35, 39 và 40)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

4. NHỮNG YÊU CẦU, ĐÒI HỎI ĐỐI VỚI THẨM PHÁN, HỘI THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHI LÀM NHIỆM VỤ

 

  • Trong khi làm nhiệm vụ, Thẩm phán, Hội thẩm Toà án nhân dân, phải thực hiện đầy đủ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm”.

  -     Nhân là thật thà, thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chọn cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không sợ cực khổ, không sợ oai quyền; 

-     Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có gì giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc thì bất kỳ to nhỏ đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải làm thì làm, thấy việc phải nói thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn; 

-     Trí vì không có việc gì tư túi nó làm cho mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng. Biết xem người, biết xét việc. Vì vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc làm có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian;

 
-     Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh, chính đại, không bao giờ hủ hoá.
-     Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát; 

 

 
 
-  Toà án quyết định những vấn đề của vụ án phù hợp với sự đánh giá khách quan của mình các sự kiện của vụ án và sự hiểu biết của mình về pháp luật mà không có sự tác động sai trái, trực tiếp hay gián tiếp, bởi bất kỳ ai, cơ quan, tổ chức nào;
-  Toà án có thẩm quyền trực tiếp hoặc bằng cách xem xét lại đối với tất cả những vấn đề mang tính tư pháp.
  • Việc duy trì tính độc lập của tư pháp là cần thiết để đạt được mục đích của tư pháp và để thực hiện đúng chức năng của nó trong xã hội có tự do và tuân thủ các quy định của pháp luật. Sự độc lập này cần phải được đảm bảo bởi Nhà nước và phải được quy định trong Hiến pháp hoặc pháp luật.
  • Toà án có trách nhiệm tôn trọng các mục tiêu và chức năng hợp pháp của các cơ quan chính phủ. Các cơ quan này cũng có trách nhiệm tôn trọng các mục tiêu và chức năng hợp pháp của Toà án.
  • Trong quá trình giải quyết vụ án, không một cơ quan nào của Toà án hoặc người nào được can thiệp tác động đến nghĩa vụ của Thẩm phán thực hiện một mình hoặc bằng tập thể Thẩm phán thẩm quyền ra bản án theo quy định tại Điều 3(a) của Tuyên bố Bắc Kinh. Về phần mình, Thẩm phán tự mình hay thông qua tập thể thực hành chức năng của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
  • Thẩm phán phải ủng hộ phẩm chất trung thực chính trực và tính độc lập của Toà án thông qua việc tránh có những hành vi sai trái, không lương thiện và tránh sự biểu hiện những hành vi đó trong tất cả các hoạt động của mình.
  • Ở mức độ phù hợp với nghĩa vụ của mình với tư cách cán bộ Toà án, Thẩm phán, cũng như các công dân khác, có quyền tự do tín ngưỡng, tự do thể hiện quan điểm, tự do hội họp.
  • Thẩm phán được tự do theo quy định của pháp luật thành lập hoặc tham gia hiệp hội các Thẩm phán để thể hiện các quyền lợi và củng cố việc bồi dưỡng nghiệp vụ của mình và có quyền thực hiện những hành vi khác thích hợp để bảo vệ sự độc lập của mình.
PHẦN THỨ HAI - XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
1. XÉT XỬ SƠ THẨM
 
VBQPPL
BLTTHS (khoản 1 Điều 166)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I)

Cần xem xét có đủ điều kiện để nhận hồ sơ vụ án và thụ lý hồ sơ vụ án hay không. Các công việc này do bộ phận nhận hồ sơ vụ án và thụ lý hồ sơ vụ án thực hiện.

 Công việc chính và kỹ năng thực hiện: 
  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 166 BLTTHS kiểm tra bản cáo trạng đã được giao cho bị can hay chưa. Nếu bản cáo trạng chưa được giao cho bị can thì không nhận hồ sơ vụ án.
  • Đối chiếu bản kê tài liệu với các tài liệu trong hồ sơ vụ án để nếu đủ thì ký nhận còn nếu không đủ thì không nhận hồ sơ vụ án.
  • Căn cứ vào hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 mục 1 phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP, Toà án chỉ nhận hồ sơ vụ án khi bản cáo trạng đã được giao cho bị can và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đầy đủ so với bản kê tài liệu.
  • Nếu có vật chứng được chuyển giao cùng hồ sơ vụ án thì phải lập biên bản giao nhận vật chứng. Biên bản phải có chữ ký của bên giao, bên nhận và được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • Ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án, phải vào sổ thụ lý và ghi số, ngày tháng, năm thụ lý hồ sơ vụ án vào bìa hồ sơ. Cần thống nhất cách ghi này. Nên ghi góc trên, bên trái của bìa hồ sơ vụ án.
  • Báo cáo Chánh án hoặc người được Chánh án uỷ quyền phân công Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà.

Cần nghiên cứu kỹ cả về nội dung sự việc và thủ tục tố tụng.
 
VBQPPL
BLHS (khoản 3 Điều 8)
BLTTHS (các khoản 1 và 2 Điều 170; các điều 171, 172, 174 và 175)
Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA (Phần I, Phần II và Phần III)
Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP (mục 1)
-  Xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân (TAND) cấp huyện và Tòa án quân sự (TAQS) khu vực (căn cứ vào khoản 1 Điều 170 BLTTHS); 
-  Xác định thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh và TAQS quân khu  cần căn cứ vào khoản 2 Điều 170 BLTTHS
-  Xác định tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cần căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS; mục 1 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP. Cần chú ý căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt để xác định đó là loại tội gì; cụ thể: 
+    Mức cao nhất của khung hình phạt không quá ba năm tù là tội ít nghiêm trọng; 
+    Mức cao nhất của khung hình phạt từ bốn năm tù đến bảy năm tù là tội phạm nghiêm trọng; 
+    Mức cao nhất của khung hình phạt từ tám năm tù đến mười lăm năm tù là tội phạm rất nghiêm trọng; 
+    Mức cao nhất của khung hình phạt từ mười sáu năm tù đến hai mươi năm tù hoặc tù chung thân hoặc tử hình là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. 
  • Xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ và thẩm quyền xét xử những tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải của Việt Nam 
-  Xác định thẩm quyền trong trường hợp này cần căn cứ vào Điều 171 và Điều 172 BLTTHS. Nói chung việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ do Viện kiểm sát xác định khi quyết định truy tố. 
  • Xác định thẩm quyền xét xử của TAQS 
-  Xác định đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS cần căn cứ vào các Điều 3, 4 và 5 Pháp lệnh tổ chức TAQS và hướng dẫn tại Phần I Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA.
-  Xác định thẩm quyền xét xử của TAQS cần căn cứ vào Điều 171 BLTTHS và hướng dẫn tại Phần II Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA.
-  Xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAQS các cấp cần căn cứ vào Điều 170 BLTTHS; khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh tổ chức TAQS và hướng dẫn tại Phần III Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA.
  • Kết quả của việc xác định thẩm quyền xét xử
-  Nếu vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình thì tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung;
-  Nếu vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án mình thì căn cứ vào Điều 174 BLTTHS chuyển vụ án cho Toà án có thẩm quyền xét xử;
-  Nếu có tranh chấp về thẩm quyền xét xử thì căn cứ vào Điều 175 BLTTHS báo cáo Chánh án Toà án có thẩm quyền giải quyết xem xét, quyết định.

 

 
 
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 176)
Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP (mục 9 phần I)
Nghị quyết số 04/2004/NQ–HĐTP (các tiểu mục 1.2 và 1.3 mục 1 Phần I)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

  • Căn cứ vào Điều 176 BLTTHS; tiểu mục 1.2 mục 1 phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP để xác định thời điểm kết thúc thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án cụ thể đó để bảo đảm việc xét xử vụ án trong thời hạn luật định, đặc biệt là trường hợp Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
  • Chỉ được gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án thuộc một trong các trường hợp:
- Vụ án có nhiều bị can, phạm tội có tổ chức hoặc phạm nhiều tội;
- Vụ án liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc nhiều địa phương;
- Vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc để tham khảo ý kiến của cơ quan chuyên môn.
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 80, 88, 91, 92, 93 và 177)
Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP (mục 9 phần I)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (tiểu mục 2.1 mục 2 phần I)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 57, Điều 63, khoản 2 Điều 176, Điều 185, khoản 1 Điều 207, Chương XXXII)
BLHS (điểm n khoản 1 Điều 46)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

        Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án có thể được thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào từng vụ án và kỹ năng của mỗi Thẩm phán. Thông thường, được tiến hành như sau:

-  Nghiên cứu bản cáo trạng và đối chiếu bản cáo trạng với bản kết luận điều tra; trên cơ sở đó xác định thứ tự nghiên cứu các tình tiết về từng sự việc, về từng tội của từng vụ án thế nào cho hợp lý. Ví dụ: trong vụ án có nhiều bị can bị truy tố về nhiều tội khác nhau, thì cần xác định thứ tự nghiên cứu hồ sơ vụ án như thế nào cho hợp lý. Nghiên cứu về từng hành vi phạm tội đối với các bị can hay nghiên cứu đối với từng bị can về tất cả các hành vi phạm tội của họ v.v.
-  Nghiên cứu các lời khai của những người tham gia tố tụng theo thứ tự: bị can; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người này; người làm chứng theo trình tự thời gian;
-  Nghiên cứu các văn bản nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án;
-  Cần đọc kỹ các văn bản quy phạm pháp luật về các lĩnh vực chuyên môn liên quan đến việc giải quyết vụ án (cần đọc toàn văn để hiểu đúng tinh thần và nội dung của văn bản đó);
-  Cần ghi chép những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định không có tội (cần ghi số bút lục để dễ tìm kiếm khi cần thiết);
-  Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTHS, cần có kế hoạch xét hỏi cụ thể hợp lý.
  • Những vấn đề cần lưu ý khi nghiên cứu hồ sơ vụ án:
-  Trong số các bị can, bị cáo bị truy tố, có bị can nào bị truy tố về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình hay không; có bị can nào có thể quyết định đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình hay không. Nếu có một trong các trường hợp này thì cần chú ý về thành phần HĐXX khi quyết định đưa vụ án ra xét xử (hai Thẩm phán và ba Hội thẩm) và bảo đảm quyền bào chữa cho họ (Điều 57 Điều 185 BLTTHS);
-  Trong số các bị can bị truy tố có bị can nào là người chưa thành niên hay không. Nếu có phải tuân thủ các quy định của BLTTHS đối với người chưa thành niên phạm tội (Điều 57 Chương XXXII BLTTHS);
-  Trong số các bị can bị truy tố có bị can nào là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hay không để bảo đảm quyền bào chữa cho họ (Điều 57 BLTTHS) và áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 46 BLHS.
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 39, khoản 2 Điều 105, khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 107, Điều 160, 176, 178, 179 và 180)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (mục 3 và mục 4 Phần I; các mẫu số 04a, 04b, 04c và 04d)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên toà. Việc triệu tập này phải được làm thành văn bản và tuỳ vào từng đối tượng cụ thể mà có hình thức văn bản phù hợp (nếu đã có mẫu văn bản thì phải làm đúng theo mẫu đã được ban hành).
 
 
 

 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 182)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
 
 
Cần kiểm tra các việc chuẩn bị cho việc mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án đã được thực hiện đầy đủ hay chưa; nếu có việc nào chưa được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoặc thực hiện chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng thì kịp thời sửa đổi, bổ sung, tránh việc hoãn phiên toà vì những thiếu sót này.
 
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 185, 187, 189, 190, 191, 192, 193, 200, 307 và Chương XVIII)
BLHS (khoản 2 Điều 93)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (Phần II)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
  • Thành phần HĐXX sơ thẩm quy định tại Điều 185Điều 307 BLTTHS. Đối với vụ án mà các bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì HĐXX bắt buộc gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Cần chú ý là khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, chứ không phải trong điều luật đó có quy định hình phạt cao nhất là tử hình. Ví dụ: nếu bị cáo bị truy tố theo khoản 2 Điều 93 BLHS thì thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm.
  • Sự có mặt của bị cáo, của kiểm sát viên và của những người tham gia tố tụng khác quy định tại các điều 187, 189, 190, 191, 192193 BLTTHS để khi có người vắng mặt, thì quyết định hoãn phiên toà hoặc vẫn tiến hành xét xử.
  • Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì HĐXX ra quyết định tạm đình chỉ xét xử cho đến khi bị cáo khỏi bệnh. Cần chú ý là trong trường hợp vụ án có nhiều bị cáo mà lý do tạm đình chỉ xét xử không liên quan đến các bị cáo khác thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử đối với các bị cáo khác.
  • Việc giám sát bị cáo tại phiên toà quy định tại Điều 188 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 1 phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP. Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà cần phải chú ý đến việc giám sát bị cáo khi HĐXX tạm nghỉ hoặc vào phòng nghị án thảo luận thông qua các quyết định, bản án. Cụ thể, trước khi HĐXX tạm nghỉ hoặc vào phòng nghị án tuỳ từng trường hợp mà tuyên bố như sau:
-  Đối với bị cáo đang bị tạm giam, thì phải tuyên bố: “Giao bị cáo đang bị tạm giam cho những người có nhiệm vụ dẫn giải giám sát trong thời gian HĐXX tạm nghỉ (hoặc trong thời gian HĐXX vào phòng nghị án thảo luận);
-  Đối với bị cáo không bị tạm giam thì phải tuyên bố: “Bị cáo không bị tạm giam phải có mặt khi HĐXX trở lại phòng xử án. Nếu vắng mặt không có lý do chính đáng và không được phép của Chủ toạ phiên toà thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung hoặc tuyên án vắng mặt bị cáo”.
-  Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Cần chú ý là trong cáo trạng Viện kiểm sát có thể mô tả, đưa ra nhiều hành vi phạm tội của bị can, nhưng cần chú ý là Viện kiểm sát kết luận truy tố những hành vi nào, theo tội danh nào thì Tòa án chỉ xét xử những hành vi đó, theo tội danh đó (Ví dụ: Viện kiểm sát mô tả bị can trộm cắp mười lần, nhưng kết luận chỉ đủ chứng cứ truy tố hai lần về tội trộm cắp, thì Tòa án chỉ xét xử hành vi trong hai lần đó theo tội trộm cắp). Nếu xét thấy điều tra chưa đầy đủ, có thể bỏ lọt người phạm tội hoặc bỏ lọt tội phạm thì trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
-  Toà án có thể xét xử:
+ Theo khoản nặng hơn hoặc khoản nhẹ hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật (tiểu mục 2.1 mục 2 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP);
+ Về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố: Cần nghiên cứu kỹ hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP để xác định tội nào Toà án sẽ xử bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố hay không. Nếu không thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại tiểu mục này thì Toà án không được xét xử bị cáo về tội khác nặng hơn so với tội mà Viện kiểm sát đã truy tố, cho dù có đủ căn cứ;
+ Về tội nhẹ nhất trong các tội mà Viện kiểm sát truy tố hoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà Viện kiểm sát truy tố đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong trường hợp Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều tội đối với nhiều hành vi phạm tội (tiểu mục 2.3 mục 2 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP).
  • Nếu xét thấy có thể xét xử bị cáo theo một trong các trường hợp trên đây, cần tuân thủ quy định của BLTTHS về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, về thành phần HĐXX và về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.
  • Cần thực hiện đầy đủ những yêu cầu đối với biên bản phiên toà quy định tại Điều 200 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 3 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP;
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 42, 45, 46, 47, 60 , 61, 198, 199, 201, 202, 203 và 204)
Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP (các mục 3, 4, 5, 6 và 8 Phần I)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (các tiểu mục 1.1 và 1.2, 1.3, 1.4 và 1.5 mục 1 Phần III
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Trước khi bắt đầu phiên toà, yêu cầu Thư ký Toà án phổ biến nội quy phiên toà, những biện pháp đối với người vi phạm trật tự phiên toà quy định tại Điều 198 BLTTHS; kiểm tra những người được triệu tập tham gia phiên toà và nếu có người vắng mặt cần làm rõ lý do để báo cáo với HĐXX.
  • Sau khi HĐXX vào phòng xử án, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử cần yêu cầu mọi người đứng dậy như khi tuyên án.
  • Sau khi đọc xong quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà đề nghị Thư ký Toà án báo cáo danh sách những người được triệu tập đã có mặt; nếu có người vắng mặt đề nghị báo cáo lý do vắng mặt.
  • Kiểm tra căn cước của những người được triệu tập đến phiên toà đã có mặt theo quy định tại Điều 201 BLTTHS và hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1 và 1.2 mục 1 Phần III Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.
  • Giải thích cho những người được triệu tập đến phiên toà biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại các điều 201, 203 204 BLTTHS và hướng dẫn tại các tiểu mục 1.3, 1.4 và 1.5 mục 1 Phần III Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.
  • Hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch hay không. Khi có người yêu cầu thay đổi ai trong số những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch thì căn cứ vào điều luật tương ứng quy định tại các điều 42, 45, 46, 47, 60, 61 202 BLTTHS và hướng dẫn tương ứng tại các mục 3, 4, 5, 6 và 8 Phần I Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP để xem xét và quyết định.
  • Lưu ý: quyết định về việc thay đổi người tiến hành tố tụng (thành viên của HĐXX, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án), người giám định, người phiên dịch phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải được lập thành văn bản theo quy định tại khoản 2 Điều 199 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 3 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP.
  • Giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên toà khi có người vắng mặt.
  • Cần phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem ai có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét hay không; nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt thì hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên toà hay không theo quy định tại Điều 205 BLTTHS. Tuỳ thuộc vào yêu cầu cụ thể mà căn cứ vào điều luật tương ứng của BLTTHS để xem xét và quyết định. Căn cứ vào quy định tại Điều 199 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 3 Phần II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP thì việc quyết định về các vấn đề này được HĐXX thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải lập thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên toà.
  • Xem xét để quyết định có cần thiết việc áp dụng những biện pháp để cho những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan; quyết định việc cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 204 BLTTHS.
  • Xem xét có căn cứ tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án đối với bị cáo nào hay không. Quyết định về việc tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án và phải làm đúng theo mẫu số 05bmẫu số 05c (ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP).

 

 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 206, 207, 208, 209, 210, 211,212, 213,214, 215 và 216)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
- Căn cứ vào kế hoạch xét hỏi đã được chuẩn bị, tiến hành việc xét hỏi theo trình tự quy định tại Điều 207 BLTTHS;
- Khi xét hỏi, HĐXX xem xét những vật chứng có liên quan trong vụ án;
- Chỉ công bố những lời khai tại cơ quan điều tra khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 208 BLTTHS;
- Việc hỏi bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của những người này; người làm chứng; người giám định cần phải thực hiện theo đúng quy định tương ứng tại các điều 209, 210, 211 215 BLTTHS.
  • Xem xét vật chứng hoặc xem xét tại chỗ chỉ áp dụng trong trường hợp xét thấy cần thiết và phải thực hiện đúng theo quy định tại Điều 212Điều 213 BLTTHS.
  • Trình bày, công bố các tài liệu của vụ án và nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức cần thực hiện đúng quy định tại Điều 214 BLTTHS.
  • Khi xét hỏi cần phải hỏi cụ thể, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu. Không được đặt các câu hỏi có tính chất khẳng định (ví dụ: anh tên là Nguyễn Văn A phải không?), mớm cung, bức cung, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người được hỏi.
  • Cần phải dự kiến các tình huống xảy ra khi hỏi từng đối tượng cụ thể và có biện pháp xử lý thích hợp.
  • Kết thúc xét hỏi quy định tại Điều 216 BLTTHS
- Kiểm tra các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ hay chưa. Nếu đã được xem xét đầy đủ thì chủ toạ phiên toà hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia phiên toà xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không;
- Khi có người yêu cầu thì xem xét yêu cầu đó. Nếu xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ và việc xét hỏi theo yêu cầu đó là cần thiết, thì Chủ toạ phiên toà quyết định tiếp tục việc xét hỏi.
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 105, 199, 217, 218, 219, 220 và 221)
Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP (mục 7 Phần I)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

  • Căn cứ vào Điều 217 BLTTHS để xác định trình tự phát biểu khi tranh luận, Chủ toạ phiên toà có quyền yêu cầu người phát biểu khi tranh luận phát biểu đúng những vấn đề liên quan đến vụ án và theo quy định tại Điều 217 BLTTHS.
  • Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 BLTTHS, thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên toà được thực hiện theo trình tự phát triển khi tranh luận tại phiên toà quy định tại Điều 217 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 7 Phần I Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP.
  • Bảo đảm việc đối đáp theo đúng quy định tại Điều 218 BLTTHS.
  • Phải ghi chép đầy đủ, tóm tắt các ý kiến phát biểu khi tranh luận và khi đối đáp để xem xét có cần trở lại việc xét hỏi hay không và để sử dụng khi nghị án, khi viết bản án.
  • Qua tranh luận thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX có thể quyết định trở lại việc xét hỏi theo quy định tại Điều 219 BLTTHS. Theo quy định tại Điều 199 BLTTHS thì quyết định việc trở lại xét hỏi được HĐXX thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải lập thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên toà. Cần chú ý là, xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.
  • Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc tranh luận và cho bị cáo nói lời sau cùng theo quy định tại Điều 220 BLTTHS. Cần phải ghi chép đầy đủ, tóm tắt lời nói sau cùng của bị cáo. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án, thì HĐXX quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.
  • Trong quá trình tranh luận tại phiên toà, nếu Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung; nếu Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, HĐXX yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên toà trình bày ý kiến về việc rút truy tố đó theo quy định tại Điều 221 BLTTHS
VBQPPL
BLTTHS (các điều 222, 224, 225, 226, 227, 228)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (các tiểu mục 1.3 và 1.4 mục 1, mục 2, mục 3 Phần IV)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:

 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 229)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
2. XÉT XỬ PHÚC THẨM
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 231, 232, 234 và 239)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (các mục 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Phần I)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
- Khi có kháng cáo quá hạn, thì Toà án cấp phúc thẩm phải thành lập HĐXX gồm ba Thẩm phán để xét lý do kháng cáo quá hạn. Việc xét lý do kháng cáo quá hạn phải được thực hiện trước khi mở phiên toà;
- Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng, tức là trong trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định. Ví dụ: do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, bị tai nạn phải nằm viện điều trị;
- Để xét kháng cáo quá hạn đúng quy định tại Điều 235 BLTTHS cần nghiên cứu kỹ hướng dẫn tại mục 5 Phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP;
- Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn phải làm đúng theo mẫu số 01c và quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn phải làm đúng theo mẫu số 01d (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP).
 
 
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 241)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 242)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 243)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (mục 2 Phần II)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Về nguyên tắc chung HĐXX phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm. Thực tiễn xét xử phúc thẩm trong những năm qua cho thấy, trong các trường hợp thì HĐXX phúc thẩm chỉ gồm ba Thẩm phán. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy vụ án phức tạp hoặc vụ án đối với người chưa thành niên phạm tội cần có thêm ý kiến của Hội thẩm thì báo cáo Chánh án hoặc người được Chánh án uỷ quyền quyết định thành lập HĐXX phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và hai Hội thẩm. Cần lưu ý là, trường hợp này không thực hiện đối với các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao và Toà án quân sự trung ương vì ở TANDTC và TAQSTW không có Hội thẩm.
VBQPPL
BLTTHS (các điều 207 và 247)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (mẫu số 02a)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Về nguyên tắc chung, cần phải nghiên cứu toàn diện hồ sơ vụ án cả về thủ tục tố tụng và nội dung sự việc. Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, nếu xét thấy không cần thiết xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án, thì chỉ lập kế hoạch xét hỏi đối với nội dung kháng cáo, kháng nghị.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án có thể được thay đổi linh hoạt phụ thuộc vào từng vụ án và kỹ năng của mỗi Thẩm phán. Thông thường, được tiến hành như sau:
- Nghiên cứu kháng cáo, kháng nghị để xác định chủ thể kháng cáo, đối tượng kháng cáo;
- Nghiên cứu bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị;
- Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc xem xét kháng cáo, kháng nghị;
- Xét thấy có cần thiết xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án, quyết định sơ thẩm không;
- Cần ghi chép những chứng cứ chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị (cần ghi số bút lục để dễ tìm kiếm khi cần thiết);
- Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 207 Điều 247 BLTTHS cần có kế hoạch xét hỏi cụ thể hợp lý.
  • Nếu trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, người kháng cáo và Viện kiểm sát kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm. Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm phải làm đúng theo mẫu số 02a (ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP).
 
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có quyền yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ mới.
  • Viện kiểm sát có thể tự mình bổ sung chứng cứ mới; người kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có quyền bổ sung tài liệu, đồ vật. Việc giao nhận chứng cứ mới; giao nhận tài liệu, đồ vật do đương sự bổ sung phải được lập thành văn bản. Biên bản phải có chữ ký của bên giao, bên nhận và được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • Chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung đều phải được xem xét, nghiên cứu cùng chứng cứ cũ, tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án.
VBQPPL
BLTTHS (Điều 245)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (mục 3 Phần II)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Căn cứ vào Điều 245 BLTTHS và hướng dẫn tại mục 3 Phần II Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP để xác định những người tham gia phiên toà phúc thẩm. Trên cơ sở đó, triệu tập những người tham gia đến phiên toà phúc thẩm bằng văn bản và tuỳ vào từng đối tượng cụ thể mà có hình thức văn bản phù hợp (nếu đã có mẫu văn bản thì phải làm đúng theo mẫu đã được ban hành).
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 261)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (tiểu mục 2.2 mục 2 Phần II)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 247, các Chương XVIII, XIX, XX, XXI và XXII)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (các phần II, III và IV)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (mục 4 Phần II)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
BLTTHS (Điều 198 và Điều 245)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (mục 3 và tiểu mục 4.2 mục 4 Phần II)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
VBQPPL
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
3. XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
 
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 238, 240, 248, 272, 273, 288 và 299)
Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP (tiểu mục 4.4 mục 4 Phần I)
Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP (các điểm a và b tiểu mục 7.2 mục 7 Phần I)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
- Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị (Điều 240 BLTTHS);
- Toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị nhưng người kháng cáo và Viện kiểm sát kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị và Toà án cấp phúc thẩm (Thẩm phán trước khi mở phiên toà, HĐXX tại phiên toà) ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm, thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (khoản 2 Điều 238 BLTTHS; hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 7.2 mục 7 Phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP);
- Trong trường hợp người kháng cáo rút một phần trong kháng cáo của mình hoặc có nhiều người kháng cáo, nhưng có người rút kháng cáo, có người không rút kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị trong kháng nghị của mình, nếu Toà án cấp phúc thẩm không xem xét các phần có kháng cáo, kháng nghị đã bị rút; thì những phần của bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị (hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 7.2 mục 7 Phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP);
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (khoản 3 Điều 248 BLTTHS);
- Quyết định GĐT, tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định (Điều 288Điều 299 BLTTHS).
  • Vi phạm pháp luật nghiêm trọng là các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục GĐT bao gồm các trường hợp được quy định tại Điều 273 BLTTHS. Nói chung, chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền nhưng chỉ có thể coi là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục GĐT khi và chỉ khi vi phạm đó làm cho việc xét xử vụ án không toàn diện, không bảo đảm khách quan, theo đúng quy định của pháp luật. Thực tiễn GĐT cho thấy:
- Điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện, có nghĩa là việc điều tra xét hỏi chỉ thiên về một mặt, một khía cạnh, không điều tra xét hỏi đầy đủ các mặt, các khía cạnh của vấn đề đó (ví dụ: điều tra xét hỏi các mặt, các khía cạnh chỉ thiên về buộc tội mà không điều tra xét hỏi các mặt, các khía cạnh gỡ tội);
- Điều tra xét hỏi tại phiên toà không đầy đủ có nghĩa là điều tra xét hỏi bỏ sót một hoặc một số tình tiết về từng sự việc và về từng tội của vụ án hoặc không điều tra xét hỏi đối với người tham gia tố tụng (ví dụ: không hỏi người bị hại);
- Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án tức là trong phần xét thấy, trong phần quyết định của bản án hoặc quyết định có những vấn đề không phù hợp với những tình tiết khách quan đã thu thập được trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà hoặc những tình tiết khách quan đã được làm rõ tại phiên toà qua xét hỏi, tranh luận;
- Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử là trường hợp BLTTHS quy định bắt buộc phải tiến hành hoặc tiến hành theo thủ tục tố tụng đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bỏ qua hoặc không thực hiện đúng làm xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc làm cho việc giải quyết vụ án thiếu khách quan toàn diện (hướng dẫn tại tiểu mục 4.4 mục 4 Phần I Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP);
- Có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS là việc áp dụng sai điểm, khoản, điều luật của BLHS dẫn đến xét xử bị cáo về tội nặng hơn hoặc tội nhẹ hơn, về khoản nặng hơn hoặc nhẹ hơn không đúng với nguyên tắc xử lý vụ án. Cũng coi như sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS nếu áp dụng đúng điểm, khoản, điều luật của BLHS nhưng xử quá nhẹ hoặc xử quá nặng; buộc bồi thường không đúng v.v.
VBQPPL
BLTTHS (Điều 274)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 36, 38, 275, 276, 277 và 278)
Luật tổ chức TAND (Điều 26)
Luật tổ chức VKSND (Điều 9)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
VBQPPL
BLTTHS (các điều 279 và 281)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Thẩm quyền GĐT và thành phần Hội đồng GĐT được quy định cụ thể tại Điều 279 Điều 281 BLTTHS.
  • Cần lưu ý quy định mới tại khoản 4 Điều 279 BLTTHS “Những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền GĐT của các cấp khác nhau quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này (Điều 279 BLTTHS) thì cấp có thẩm quyền cấp trên giám đốc toàn bộ vụ án”.
  • Ví dụ: bản án sơ thẩm của Toà án huyện X đã xét xử đối với năm bị cáo. Chỉ có hai bị cáo kháng cáo và Toà án nhân dân tỉnh T quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với họ. Trong trường hợp này bản án sơ thẩm của Toà án huyện X đã có hiệu lực pháp luật đối với ba bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật đối với hai bị cáo kháng cáo kể từ ngày tuyên án. Phát hiện cả hai bản án đều có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS và Chánh án Toà án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục GĐT. Theo quy định tại khoản 1 Điều 279 BLTTHS thì thẩm quyền GĐT đối với phần bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật thuộc Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh T. Theo quy định tại khoản 2 Điều 279 BLTTHS thì thẩm quyền GĐT đối với bản án phúc thẩm thuộc Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 279 BLTTHS thì trong trường hợp này Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền GĐT toàn bộ vụ án.
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 280, 282, 284, 285, 286 và 287)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • BLTTHS không quy định chủ toạ phiên toà GĐT. Thực tiễn việc phân công chủ toạ phiên toà GĐT như sau :
- Phiên toà GĐT của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hoặc của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh thì do Chánh án hoặc một phó Chánh án được Chánh án uỷ nhiệm làm Chủ toạ phiên toà;
- Phiên toà GĐT của Toà án quân sự trung ương, Toà Hình sự Toà án nhân dân tối cao gồm ba Thẩm phán do một Thẩm phán làm Chủ toạ phiên toà theo sự phân công của Chánh án Toà án quân sự Trung ương hoặc Chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao.
-  Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà và kiểm tra sự có mặt của những người tiến hành tố tụng và những người được triệu tập tham gia phiên toà GĐT. Cần chú ý là người được triệu tập tham gia phiên toà GĐT vắng mặt (không phân biệt có lý do chính đáng hay không có lý do chính đáng) thì Hội đồng GĐT vẫn có thể tiến hành xét xử;
-  BLTTHS không quy định nhưng cần có một Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà GĐT;
-  Một thành viên của Hội đồng GĐT trình bày bản thuyết trình về vụ án;
-  Những người được triệu tập tham gia phiên toà (nếu có) trình bày ý kiến của mình về kháng nghị, về vụ án;
-  Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về kháng nghị, về vụ án;
-  Các thành viên Hội đồng GĐT thảo luận, phát biểu ý kiến (trong quá trình các thành viên Hội đồng thảo luận, phát biểu ý kiến, nếu đại diện Viện kiểm sát có đề nghị thì cùng tham gia thảo luận, phát biểu ý kiến);
-  Sau khi các thành viên Hội đồng GĐT thảo luận, phát biểu ý kiến xong, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án;
-  Chủ toạ phiên toà GĐT đưa ra các vấn đề cần quyết định và các thành viên Hội đồng GĐT biểu quyết.
  • Xác định phạm vi GĐT
- Theo quy định tại Điều 284 BLTTHS thì Hội đồng GĐT phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị. Tuy nhiên khi xem xét theo hướng không có lợi cho người bị kết án cần chú ý là chỉ khi bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật chưa quá một năm.
  • Xác định thẩm quyền của Hội đồng GĐT.
-  Thẩm quyền của Hội đồng GĐT được quy định tại Điều 285các điều tương ứng 286287 BLTTHS. Khi ra quyết định nào thì căn cứ vào khoản tương ứng (Điều 286 hoặc Điều 287) của BLTTHS để quyết định cụ thể như sau:
+ Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì căn cứ vào khoản 1 Điều 285 BLTTHS;
+ Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án, thì căn cứ vào khoản 2 Điều 285Điều 286 BLTTHS;
+ Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại, thì căn cứ vào khoản 3 Điều 285Điều 286 BLTTHS.
-  Khi huỷ phần quyết định nào đó trong bản án đã có hiệu lực pháp luật cần ghi: “huỷ bản án số... ngày... tháng... năm của Toà.....về phần quyết định.....”. Không được ghi huỷ một phần bản án…
-  Trong trường hợp huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc để xét xử lại và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị cáo là cần thiết, thì Hội đồng GĐT ra quyết định tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án thụ lý lại vụ án.
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 288 và 289)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 290 và 291)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 291 và 292)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
 
VBQPPL
BLTTHS (các điều 293, 294 và 295)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Để xác định thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm cần căn cứ vào Điều 293 BLTTHS. Cần chú ý là chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh trở lên mới có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
  • Để tình tiết của vụ án mới được phát hiện được coi là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị phải ra quyết định xác minh. Chỉ khi kết quả xác minh cho thấy tình tiết này là hoàn toàn mới được phát hiện và nó có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền mới kháng nghị.
  • Khi được phân công giúp người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm để xem xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm ngoài việc cần nắm chắc các công việc và kỹ năng thực hiện tại các điểm 3.2.1 và 3.2.2 tiểu mục 3.2 mục 3 phần thứ hai trên đây, cần nghiên cứu thực hiện các quy định tại các điều 294295 BLTTHS
VBQPPL
BLTTHS (các điều 279 và 296)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Thẩm quyền tái thẩm được quy định cụ thể tại Điều 296 BLTTHS. Điều đáng lưu ý là Điều 296 BLTTHS không có quy định tương ứng như khoản 4 Điều 279 BLTTHS: “Những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền GĐT của các cấp khác nhau quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này (Điều 279 BLTTHS) thì cấp có thẩm quyền cấp trên GĐT toàn bộ vụ án”. Tuy chưa có hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, nhưng để bảo đảm tính thống nhất cũng cần áp dụng quy định này trong trường hợp những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền tái thẩm của các cấp khác nhau quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 296 BLTTHS thì cấp có thẩm quyền cấp trên tái thẩm toàn bộ vụ án.
VBQPPL
BLTTHS (các điều 280, 281, 282, 283 và 297)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
VBQPPL
BLTTHS (các điều 299 và 300)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
4. XÉT XỬ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
 
 
VBQPPL
BLTTHS (Chương XXXII)
Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
VBQPPL
BLTTHS (Điều 301)

Công việc chính và kỹ năng thực hiện:
  • Phải xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo (khoản 2 Điều 302 BLTTHS). Việc xác định chính xác ngày, tháng, năm sinh của bị can, bị cáo có ý nghĩa hết sức quan trọng, xem người đó đã đến tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự hay chưa; nếu đã đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì khi phạm tội họ bao nhiêu tuổi và khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử họ đã đủ 18 tuổi hay chưa, để thực hiện đúng các quy định của BLHS đối với họ cũng như áp dụng đúng quy định của BLTTHS đối với người chưa thành niên phạm tội.
  • Cần phải dùng mọi biện pháp để xác định độ tuổi của họ. Thông thường, việc chứng minh độ tuổi của người phạm tội do cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện; cho nên trong trường hợp tài liệu có trong hồ sơ vụ án chưa có đầy đủ căn cứ để xác định độ tuổi của người chưa thành niên phạm tội thì trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
  • Trong trường hợp cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã tiến hành mọi biện pháp cần thiết, nhưng không xác định được chính xác ngày, tháng, năm sinh thì cần xác định tuổi như sau:
- Nếu chỉ xác định được tháng cụ thể, nhưng không xác định được ngày nào trong tháng đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Nếu xác định được quý cụ thể của năm sinh, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong quý đó thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng của quý đó làm ngày tháng năm sinh của bị can, bị cáo;
- Nếu xác định được nửa đầu năm hay nửa cuối năm, nhưng không xác định được ngày, tháng nào trong nửa đầu năm hay nửa cuối năm thì lấy ngày 30-6 hoặc 31-12 tương ứng của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo;
- Nếu không xác định được nửa đầu hay nửa cuối năm, quý nào, tháng nào trong năm thì lấy ngày 31-12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo.
VBQPPL
BLTTHS (các điều 80, 82, 86, 88 120 và 303)