Tham luận về công tác xét xử của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh

1/ Khái quát tình hình công

1/ Khái quát tình hình công tác xét xử năm 2011:

Năm 2011, toàn ngành Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã thụ lý 13.316 vụ án các loại và đã giải quyết 12.592 vụ, đạt tỷ lệ 94,56%. So với cùng kỳ năm 2010,  thụ lý tăng 1928 vụ và giải quyết tăng 2.274 vụ (năm 2010 thụ lý 11388 vụ, giải quyết 10.318 vụ). Riêng Toà án nhân dân cấp tỉnh thụ lý 1.613 vụ án các loại và đã giải quyết 1.435vụ, đạt tỷ lệ 88,96%. So với cùng kỳ năm 2010, thụ lý tăng 333 vụ, giải quyết tăng 292 vụ.

Trong đó án sơ thẩm thụ lý 651 vụ, giải quyết 575 vụ; phúc thẩm thụ lý 936 vụ, giải quyết 836 vụ, Giám đốc thẩm thụ lý 26 vụ, giải quyết 24 vụ.

Ngành Toà án tỉnh Đồng Nai có 105 Thẩm phán, trong đó Thẩm phán trung cấp 23 người (tỉnh) và thẩm phán sơ cấp (huyện) 82 người; bình quân trong toàn ngành, mỗi Thẩm phán giải quyết 10 vụ/tháng (tăng 1 vụ/tháng so với cùng kỳ năm 2010), tuy vậy thực tế Thẩm phán phải giải quyết số án cao hơn nhiều vì hàng năm đều có Thẩm phán hết nhiệm kỳ chờ tái bổ nhiệm ít nhất là 8 tháng, ngoài ra còn nhiều Thẩm phán đi học lớp cao cấp hoặc cử nhân chính trị (đồng chí), lớp cao học luật (12 đồng chí), do đó số Thẩm phán còn lại phải giải quyết án với áp lực rất lớn. Một số đơn vị có số bình quân Thẩm phán xét xử cao như Toà án Biên Hoà 16,5 vụ/tháng; Toà án Nhơn Trạch 11 vụ/tháng; Toà án Long Thành 9,17 vụ/ tháng, Toà án Trảng Bom 9,48 vụ/tháng…

Toà án tỉnh Đồng Nai hiện có 23 Thẩm phán, trong đó có 04 Thẩm phán hết nhiệm kỳ từ tháng 3/2011 chưa được bổ nhiệm lại (hồ sơ đã trình Toà án nhân dân tối cao), có 3 Thẩm phán mới được bổ nhiệm lần đầu tháng 8/2011, đồng chí Chánh án làm công tác quản lý. Như vậy, thực tế trong năm 2011, Toà án tỉnh chỉ có 15 Thẩm phán trực tiếp giải quyết án.      

2/ Tỷ lệ các bản án, quyết định sơ thẩm bị hủy sửa của Tòa án cấp phúc thẩm :

Số án xét xử sơ thẩm của Toà án tỉnh Đồng Nai trong năm 2011 là 575 vụ, số án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm huỷ 08 vụ (dân sự 5 vụ, kinh tế 01 vụ, hình sự 01 vụ, hành chính 01), chiếm tỷ lệ 1,39%; số án bị sửa 20 vụ chiếm tỷ lệ 3,47%.

Trong số 8 vụ bị cấp phúc thẩm huỷ, có 05 vụ Toà án tỉnh Đồng Nai không đồng ý với quan điểm của cấp phúc thẩm, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1:  

- Về việc hủy quyết định tạm đình chỉ vụ án“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và đòi lại tài sản”giữa:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Ecosoft ( Việt Nam).

- Bị đơn: Ông Pei Tong Lin và Lin, Hsuan Jung Shirley

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Amata

Quá trình giải quyết vụ án xét thấy cần uỷ thác tư pháp, ngày 25/02/2011 TAND tỉnh Đồng Nai đã ủy thác tư pháp đến Tòa án có thẩm quyền tại Hợp chủng quốc Hoa kỳ và Tòa án có thẩm quyền tại Đài Loan (Trung Quốc).

Ngày 01/03/2011 TAND tỉnh Đồng Nai căn cứ vào Điều 189 và Điều 194 của BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 02/2011/QĐST-DS với lý do “ cần chờ kết quả ủy thác tư pháp”.

Ngày 18/03/2011 Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo.

Ngày 18/05/2011 Tòa Phúc Thẩm TANDTC tại thành phố HCM đã hủy quyết định Tạm đình chỉ số 02/2011/QĐST-DS ngày 01/03/2011 của TAND tỉnh Đồng Nai với nhận định: Quyết định tạm đình chỉ số 02/2011/QĐST-DS của TAND tỉnh Đồng Nai không căn cứ vào khoản nào của Điều 189 BLTTDS; cũng tại Điều 189 không có khoản nào quy định trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do chờ kết quả ủy thác tư pháp.

Quan điểm của TAND tỉnh Đồng Nai như sau:

- Căn cứ quy định khoản 4 Điều 189 BLTTDS quy định việc “ Chờ kết quả ủy thác tư pháp” cũng là “Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án”, ngoài ra ý kiến kết luận của Lãnh đạo TAND Tối cao tại các buổi rút kinh nghiệm và tập huấn có nội dung trả lời là để chờ kết quả giải quyết của cơ quan khác, kể cả chờ kết quả ủy thác tư pháp thì sau khi ủy thác cần phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án.

- Khi ban hành Quyết định tạm đình chỉ số 02/2011/QĐST-DS, Toà án tỉnh Đồng Nai áp dụng theo mẫu Quyết định Tạm đình chỉ giải quyết vụ án (ban hành kèm Nghị quyết), căn cứ Điều 189 và Điều 194 BLTTDS mà không ghi cụ thể khoản nào. Như vậy quyết định tạm đình chỉ của Toà án tỉnh Đồng Nai không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

- Luật sửa đổi một số Điều của BLTTDS ngày 29/3/2011, tại khoản 4 Điều 189 quy định việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án được sửa đổi bổ sung “ Cần đợi kết quả uỷ thác tư pháp hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ…”. Như vậy Toà án cấp phúc thẩm huỷ quyết định tạm đình chỉ nêu trên là không có tính thuyết phục.

Vụ thứ 2: Bản án số 114/2011/DSPT ngày 09/5/2011 của Tịa phc thẩm – TANDTC hủy 01 phần bản án số: 01/2010/DS-ST ngày 21/01/2010 của TAND tỉnh Đồng Nai.

            Vụ kiện: “Tranh chấp di sản thừa kế và chia tài sản chung” giữa:

-Nguyên đơn: Ông La Lâm Quy                     

-Bị đơn:           1. Bà Đỗ Thị Hưng;                                           

           2. Ông  La Văn Sanh;                                       

           3. Ông La Lâm Phước;                                     

                       4. Bà Trần Thị Nam.                                       

Ông Sanh và bà Hưng ủy quyền cho anh Ngô Đăng Trường Vũ, sn:1972 (Văn bản ủy quyền ngày 01/8/2008).

Quan điểm của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Toà án tỉnh Đồng Nai không đồng ý với việc huỷ 01 phần bản án nêu trên, lý do: cấp phúc thẩm đã xét xử vượt quá quyền khởi kiện của đương sự, bởi lẽ:

Theo hồ sơ vụ án thì sau khi bị huỷ sơ thẩm lần thứ nhất (năm 2008), TAND tỉnh Đồng Nai đã thụ lý lại vụ án trên (sơ thẩm lần thứ hai). Tại đơn khởi kiện bổ sung hồ sơ và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn ông Quý khởi kiện có 2 nội dung:

1. Ông Quý yêu cầu chia thừa kế tài sản do cha ông là cụ La Hoa để lại;

2. Còn phần tài sản của mẹ ông là cụ Nhựt thì ông được luật sư cho biết do đã hết thời hiệu khởi kiện nên ông không yêu cầu chia thừa kế nữa mà thay đổi bằng yêu cầu chia tài sản chung phần của cụ Nhựt. 

Như vậy, việc TAND tỉnh Đồng Nai đã giải quyết là chia thừa kế phần di sản của cụ La Hoa là có căn cứ, đúng pháp luật vì còn thời hiệu thừa kế. Toà án Đồng Nai nhận định: Riêng đối với yêu cầu chia tài sản chung phần tài sản của cụ Nhựt thì: Nguyên đơn ông Quý khởi kiện yêu cầu chia thừa kế ½ nhà và đất tại Bửu Long, TP. Biên Hoà. Trước đây, tại đơn khởi kiện năm 2004 thì ông Quý xin chia thừa kế phần của cụ Nhựt (sơ thẩm lần thứ nhất và đã bị huỷ án). Nhưng sau đó, ngày 31/7/2008 ông Quý có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện từ khởi kiện chia thừa kế kỷ phần của cụ Nhựt thành yêu cầu chia tài sản chung ½ tài sản của cụ Nhựt. Qua rất nhiều lần thay đổi yêu cầu thì tại “ Đơn yêu cầu về việc tài sản chung” là đơn cuối cùng lập ngày 28/9/2009 thì ông Quý đổi thành yêu cầu xin chia tài sản chung. Tại phiên toà (ngày 21/01/2010) ông Quý cũng khẳng định là ông yêu cầu chia tài sản chung phần di sản thừa kế của cụ Nhựt vì theo ông đã hết thời hiệu chia thừa kế phần của cụ Nhựt. Yêu cầu này của ông Quý là không có căn cứ vì theo quy định tại Nghị quyết số 02/ NQ.HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao thì các đương sự (kể cả ông Quý) đều khẳng định không có bất cứ văn bản nào của tất cả các đồng thừa kế xác định phần di sản thừa kế của cụ Nhựt tại ½ nhà đất tại Bửu Long là tài sản chung chưa chia. Vì vậy, TAND tỉnh Đồng Nai đã xét xử không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của đương sự là có căn cứ, đúng pháp luật và đúng theo quy định tại điều 5 – BLTTDS  quy định về quyền khởi kiện của đương sự.

Bản án số 114/2011/DSPT ngày 09/5/2011 của Toà phúc thẩm cho rằng “ do tại cấp sơ thẩm nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu từ chia thừa kế thành chia tài sản chung đối với phần di sản của cụ Nhựt, nhưng tại phiên toà phúc thẩm hôm nay nguyên đơn lại thay đổi yêu cầu khởi kiện thành chia thừa kế di sản của bà Nhựt…. Do bản án sơ thẩm đã bác yêu cầu chia tài sản chung nên cấp phúc thẩm không thể giải quyết yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn” và với nhận định trên, Toà phúc thẩm – TATC tại TP. HCM đã huỷ 01 phần bản án sơ thẩm là không có căn cứ, vượt quá phạm vi xét xử vì đương sự nguyên đơn ông Quý chỉ yêu cầu chia tài sản chung phần tài sản của cụ Nhựt (điều 5 – BLTTDS) thì Toà án chỉ được xét xử trên yêu cầu của đương sự. Nếu tại cấp phúc thẩm mà đương sự thay đổi yêu cầu thì cũng không được giải quyết vì vượt quá phạm vi giải quyết vụ án.

Vụ thứ 3: Bản án số 48/2011/DSPT ngày 04/3/2011 của Toà Phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh huỷ toàn bộ bản án Sơ thẩm số 12/2010/DS-ST của TAND tỉnh Đồng Nai giữa:

Nguyên đơn: Kimberly Ngô (Ngô Thị Dung). Trú tại: Hoa Kỳ.

Bị đơn: Nguyễn Thị Huệ Trú tại: Long Thành, Đồng Nai.

Nội dung: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại căn nhà gắn liền đất theo Hợp đồng tặng cho tài sản đã ký và huỷ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Huệ với người liên quan nhưng không được bị đơn đồng ý vì bị đơn cho rằng khi đó bà bệnh tật, nguyên đơn là con gái bà ở nước ngoài về gây áp lực buộc bà ký hợp đồng tặng cho nhà đất. Nay nhà đất bà đã bán lấy tiền trị bệnh, trả nợ và mua nhà đất khác để ở.

Án sơ thẩm đã bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và huỷ Hợp đồng tặng cho nhà đất giữa nguyên đơn với bị đơn vì vô hiệu.

Án phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm với nhận định: Toà sơ thẩm chưa làm rõ, nguyên đơn khi về VN làm thủ tục hợp thức hoá nhà đất có làm thủ tục hồi hương hay không. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện nguyên đơn yêu cầu định giá lại nhà đất vì thời gian định giá ở cấp sơ thẩm đã trên 6 tháng. Cấp sơ thẩm căn cứ vào việc nhà đất bị đơn đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà nên xác định là tài sản hợp pháp của bị đơn, không có giấy tờ chứng minh bị đơn đứng tên giùm nguyên đơn là chưa phù hợp chứng cứ và lời trình bày của các đương sự.

Toà án cấp phúc thẩm đưa ra các lý do trên để hủy án là chưa thuyết phục bởi lẽ: Nguyên đơn tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản, không tranh chấp Đòi tài sản hay tranh chấp Quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất nên không thể đưa việc xác định bị đơn có đứng tên giùm nguyên đơn hay không. Đối với vấn đề định giá quá 6 tháng thì nguyên đơn không thắc mắc hay đặt ra ở cấp sơ thẩm và không có qui định pháp luật nào về việc thời gian định giá bao lâu thì phải định giá lại và các đương sự trong vụ án này cũng không cho rằng có sự thay đổi về giá từ lúc định giá đến khi xét xử.

Cấp phúc thẩm cho rằng Toà sơ thẩm chưa làm rõ, nguyên đơn khi về VN làm thủ tục hợp thức hoá nhà đất có làm thủ tục hồi hương hay không. Việc này, sau khi thụ lý lại đại diện nguyên đơn khẳng định chưa làm thủ tục hồi hương. Như vậy, cấp phúc thẩm chỉ cần hỏi tại phiên toà là rõ, không cần thiết phải huỷ án sơ thẩm.

Vụ thứ 4: Vụ án “Tranh chấp tài sản chung” giữa:

- Nguyên đơn: 1. Chị Hoàng Thị Thiện, sinh năm: 1967.

                      2. Chị Hoàng Thị Phước, sinh năm: 1971.

                      3. Chị Hoàng Thị Hiệp, sinh năm: 1964.

                      4. Anh Hoàng Thành, sinh năm: 1969.

                      5. Anh Hoàng Bình, sinh năm: 1958.

- Bị đơn: Anh Hoàng Diệp, sinh năm: 1965.

Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đình chỉ vụ án do nguyên đơn không có quyền khởi kiện vào ngày 04/11/2010.

Ngày 08/11/2010 nguyên đơn kháng cáo đề nghị huỷ quyết định đình chỉ của Toà án của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Ngày 17/01/2011 Toà phc thẩm-Toà án nhân dân tối cao tại TP.Hồ Chí Minh huỷ quyết định đình chỉ của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai với lý do: “… Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào hợp đồng uỷ quyền ngày 10/12/2009 của bà Nguyễn Thị Trà (đã hợp pháp hoá lãnh sự) và căn cứ nội dung biên bản đối chất ngày 26/10/2010 giữa nguyên đơn và bị đơn để xác định nhà, đất là của bà Trà, trong khi chưa thu thập, xác minh đầy đủ các chứng cứ trong vụ án để làm rõ đất có phải cấp cho hộ gia đình nguyên đơn hay không? Khi bà Trà - mẹ của các nguyên đơn và bị đơn xuất cảnh để định cư ở nước ngoài có phải các nguyên đơn và bà Trà đã uỷ quyền cho ông Diệp đại diện đứng tên như các nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện hay cho luôn phía bị đơn như đơn trình bày. Vì vậy, cấp sơ thẩm nhận định tài sản tranh chấp thuộc quyền sở hữu và sử dụng của bà Trà là chưa đủ cơ sở vững chắc. Từ nhận định chưa đủ cơ sở này, … là không có căn cứ, trái quy định của pháp luật…”.

Quan điểm của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai

Cấp phúc thẩm huỷ quyết định đình chỉ của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai là không có căn cứ và vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự, bởi lẽ:

- Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai khi nhận đơn và thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật là “Tranh chấp tài sản chung” giữa bà Thiện và các đồng nguyên đơn với ông Diệp trên cơ sở các chứng cứ như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy uỷ quyền mà nguyên đơn cung cấp, xác định bà Thiện và những người khác là nguyên đơn, ông Diệp là bị đơn là đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại biên bản làm việc ngày 26/10/2010 các nguyên đơn đều xác định “…Nhà đất không phải là tài sản của mình (các nguyên đơn) mà là tài sản của mẹ mình (bà Trà), các nguyên đơn đại diện mẹ mình khởi kiện yêu cầu anh Diệp trả lại tài sản cho bà Trà …”, đồng thời bà Trà cũng khẳng định tài sản là của mình. Như vậy, các nguyên đơn đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, không “Tranh chấp tài sản chung” mà yêu cầu “Đòi tài sản”, trong khi bà Trà không có đơn khởi kiện. Theo các chứng cứ đương sự cung cấp và lời trình bày của đương sự thì các nguyên đơn không có quyền khởi kiện “Đòi tài sản” vì tài sản không thuộc quyền quản lý sử dụng và quyền sở hữu của các nguyên đơn. Vì vậy, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ vụ án là đúng pháp luật.

- Như đã nêu trên, khi khởi kiện “Tranh chấp tài sản chung” thì các nguyên đơn đã cung cấp các chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện, song các chứng cứ và yêu cầu chưa rõ ràng, nên đã làm việc và đương sự đã thay đổi yêu cầu, đây chỉ mới xác định các điều kiện khởi kiện vụ án để Toà án xem xét có đủ điều kiện thụ lý hay chưa, Toà án chưa giải quyết nội dung vụ án, nên việc điều tra theo hướng Toà phúc thẩm nhận định là không cần thiết. Mặt khác, theo các nguyên đơn khai tài sản là của bà Trà nên Toà án sơ thẩm xác định nếu tài sản là của bà Trà thì bà Trà phải có đơn khởi kiện chứ người khác không có quyền đại diện khởi kiện, do bà Trà không có đơn khởi kiện mà chỉ có văn bản uỷ quyền cho bà Thiện tham gia tố tụng là chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Vụ thứ 5: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực truy thu thuế”, giữa:

Người khởi kiện: Công ty TNHH Map Pacific

Người bị kiện: Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đồng Nai.

Nội dung vụ kiện: Công ty TNHH Map Pacific là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, được cấp GPĐT năm 1998 trong Khu Công nghiệp Amata – thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai với ngành nghề kinh doanh sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. Ngày 27/5/2008, Cục thuế tỉnh Đồng Nai ra Thông báo số 1377/TB-CT có nội dung: Map không thuộc diện được giảm thuế và bị truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) từ năm 2004 đến 2007 do không đạt tỷ lệ xuất khẩu 50% sản phẩm theo dự án đầu tư được cấp phép.

Sau khi khiếu nại và không được Cục thuế chấp nhận, Map khởi kiện ra Toà.

Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm tại bản án số 03/2009/HCST ngày 13/4/2009: Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Map về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực truy thu thuế”; giữ nguyên Thông báo thuế số 1377/TB-CT ngày 27/5/2008 của Cục trưởng Cục thuế tỉnh Đồng Nai.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Công ty Map kháng cáo.

Quyết định của Toà cấp phúc thẩm tại TP.HCM bản án số 44/2009/HCPT ngày 08/9/2009:

Huỷ bản án sơ thẩm với nội dung: Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, Toà cấp sơ thẩm chưa yêu cầu cơ quan cấp phép là Ban quản lý các khu công nghiệp cung cấp chứng cứ về thẩm quyền cấp và điều chỉnh giấy phép khi cho phép Map được miễn thuế TNDN trong 03 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 07 năm tiếp theo mà Toà án cấp phúc thẩm không thể bổ sung; mặt khác, Toà án cấp sơ thẩm không tuân thủ trình tự phiên toà quy định tại Điều 47 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

Quan điểm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Trên cơ sở xác định nghĩa vụ thuế phải được tính đúng theo quy định của pháp luật về thuế, nên việc Ban Quản lý KCN Đồng Nai cấp Giấy phép đầu tư (điều chỉnh) có nội dung tiếp tục miễn, giảm thuế cho Map trong khi Map không đảm bảo đủ điều kiện được hưởng ưu đãi đầu tư theo dự án được cấp phép là không có cơ sở pháp lý, nên Toà án cấp sơ thẩm đã bác đơn khởi kiện của Map và giữ nguyên thông báo truy thu thuế.

Theo thẩm quyền, Toà cấp phúc thẩm có thể tự mình hoặc yêu cầu BQL khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai cung cấp văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến chính sách thu hút đầu tư làm cơ sở giải quyết án, không thuộc trường hợp Toà cấp phúc thẩm không thể bổ sung chứng cứ tại phiên toà để huỷ bản án trên;

Trong trường hợp xác định quyết định truy thu thuế của Cục trưởng Cục thuế không đúng pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ kết luận quyết định hành chính bị khởi kiện không hợp pháp về mặt nội dung để sửa bản án sơ thẩm theo hướng tuyên huỷ quyết định hành chính bị khởi kiện, không thể tuyên huỷ bản án sơ thẩm như trên.

Về trình tự tranh luận tại phiên toà, Toà cấp sơ thẩm có vi phạm tố tụng (VKS kết luận trước khi các bên tranh luận) không thuộc trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng để huỷ án. Sau khi bị hủy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xehuỷxử:

Quyết định của Toà án cấp sơ thẩm (lần 2) tại bản án số 02/2010/HCST ngày 29/9/2010: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Map Pacific, huỷ Thông báo số 1377/TB-CT của  Cục thuế tỉnh Đồng Nai.

Sau khi xét xử sơ thẩm, Cục thuế tỉnh Đồng Nai kháng cáo và Viện kiểm sát tỉnh Đồng Nai kháng nghị.

Quyết định của Toà cấp phúc thẩm tại TP.HCM (lần 2) tại bản án số 28/2011/HC-PT ngày 15/7/2011: Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên Thông báo số 1377/TB-CT của Cục thuế tỉnh Đồng Nai.

Như vậy, bản án phúc thẩm lần hai giữ nguyên quan điểm đường lối giải quyết như bản án sơ thẩm lần 1 của Toà án tỉnh Đồng Nai.

3/ Một số kiến nghị:

Trước tình hình số lượng án của ngành Toà án tỉnh Đồng Nai ngày càng tăng cao, tính chất các vụ án ngày càng phức tạp, trong khi đó thời gian chờ bổ nhiệm lại Thẩm phán hai cấp tỉnh và huyện thường bị chậm và kéo dài, gây áp lực lớn cho cán bộ, công chức (nhất là Thẩm phán) trong công tác giải quyết, xét xử án.

- Đề nghị Toà án tối cao xem xét bổ sung biên chế (nhất là Thẩm phán) cho ngành Toà án tỉnh Đồng Nai.

- Đề nghị Toà án Tối cao ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn áp dụng Luật.

Trên đây là tham luận của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai về công tác xét xử án của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ  Chí Minh.

 

Nguồn: TAND tỉnh Đồng Nai

Văn bản mới

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Địa chỉ : 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.39363528 - Fax : 04.39363335.
Email: banbientap@toaan.gov.vn, tatc@toaan.gov.vn.
Quyền Trưởng Ban biên tập: Phạm Quốc Hưng - Vụ trưởng Vụ Thống kê - Tổng hợp.

Giấy phép cung cấp thông tin trên internet số 184/GP-TTÐT của Bộ thông tin và Truyền thông cấp ngày 27/11/2009.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.

Bản quyền thuộc Trung tâm tin học Tòa án nhân dân tối cao