Skip to main content

Xây dựng Quy tắc đạo đức Thẩm phán, tăng cường liêm chính tư pháp

(21/10/2018 12:24)

PGS, TS. Nguyễn Hòa Bình

Bí thư Trung ương Đảng

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

  

Thẩm phán là nghề nghiệp vinh quang nhưng áp lực, khó khăn và vất vả. Với trọng trách của những người bảo vệ và thực thi công lý, Thẩm phán luôn phải đối mặt với những cám dỗ, rủi ro và nguy hiểm vì mỗi phán quyết của họ tác động trực tiếp đến tự do, danh dự, nhân thân, tài sản và cả tính mạng của con người. Chính vì vậy, hoạt động của Thẩm phán được đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của người dân và xã hội. Người dân đòi hỏi ở các Thẩm phán những phẩm chất cao quý với những đánh giá khắt khe: bên cạnh trình độ chuyên môn giỏi; sự hiểu biết sâu rộng về xã hội, khoa học…, Thẩm phán phải là những người có đạo đức; lòng dũng cảm, dám đấu tranh và đấu tranh không khoan nhượng với những vi phạm pháp luật; có tinh thần thượng tôn pháp luật; luôn tuân theo lẽ công bằng; có trách nhiệm với xã hội và có tấm lòng nhân hậu. Kiến thức chuyên môn chỉ có thể phát huy khi người Thẩm phán có bản lĩnh chính trị vững vàng; có tinh thần trách nhiệm; sự vô tư, khách quan, tính cần mẫn và tận tuỵ trong công việc; đức thanh liêm và trung thực…Đây là những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để mỗi Thẩm phán khẳng định chính mình và không bị gục ngã trước những cám dỗ; là một trong những điều kiện tiên quyết bảo đảm cho người Thẩm phán hoàn thành một cách trung thực nhiệm vụ được giao; là yếu tố duy trì niềm tin của người dân vào công lý, công bằng xã hội. Cho dù hoạt động xét xử được dựa trên một nền tảng pháp lý vững chắc; được thực hiện bởi những Thẩm phán có năng lực, trình độ, nhưng kém phẩm chất đạo đức thì chất lượng hoạt động xét xử không thể được bảo đảm.

Do đòi hỏi trách nhiệm cao và những yêu cầu mang tính chất pháp lý, chính trị đối với đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán, nên ở nhiều quốc gia trên thế giới, bên cạnh những quy định về đạo đức đối với Thẩm phán trong hoạt động xét xử đã được pháp điển hoá trong các bộ luật, luật tư pháp (hình sự, tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, thi hành án…), còn có những văn bản pháp quy chuyên biệt về đạo đức đối với Thẩm phán được thể hiện dưới dạng quy chế hoặc bộ quy tắc.

Quy tắc đạo đức Thẩm phán bao gồm những nguyên tắc được xây dựng trên nền của đạo đức xã hội, quy định về phẩm chất mà Thẩm phán bắt buộc phải có trong thực thi công vụ và trong cuộc sống hàng ngày. Về cơ bản, các bộ quy tắc thường đưa ra các nguyên tắc chung và các chuẩn mực cư xử cho các Thẩm phán đang trong thời gian công tác. Ngoài ra, cũng có một số quốc gia áp dụng cả đối với những Thẩm phán đã nghỉ hưu nhưng vẫn giữ danh hiệu Thẩm phán, như Bộ luật danh dự Thẩm phán cộng hoà Belaruts, Quy tắc đạo đức đối với các thành viên và cựu thành viên của Toà án Công lý của Liên minh Châu Âu... Có bộ quy tắc mang tính chất bắt buộc áp dụng đối với Thẩm phán, nhưng cũng có bộ quy tắc mang tính chất quy ước, khuyến nghị, đưa ra các định hướng cơ bản cho việc tăng cường và bảo vệ danh dự của Thẩm phán, ví dụ như Bản quy ước về ứng xử của Thẩm phán Bang Queensland – Australia.

Để vượt qua những thách thức mà môi trường công tác đặt ra, theo thông lệ quốc tế, Bộ quy tắc đạo đức Thẩm phán quy định những tiêu chí đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp cơ bản đối với các Thẩm phán như: sự thanh liêm, chính trực; tính chuyên cần; khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật; bảo đảm tính độc lập, khách quan, vô tư, công bằng trong xét xử; không lợi dụng vị trí công tác của mình vào mục đích cá nhân cũng như không được bằng hành vi xử sự của mình cho phép người khác tạo ra cảm giác rằng họ có thể gây ảnh hưởng đến Thẩm phán... Bên cạnh đó, tuỳ thuộc vào thể chế chính trị, hình thức tổ chức Nhà nước…, từng quốc gia có những yêu cầu khác nhau về các hoạt động khác của Thẩm phán; như: trong hoạt động chính trị; giao dịch tài chính và quà tặng; thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại, đầu tư cổ phiếu… Một số quốc gia quy định ngay trong Quy chế đạo đức Thẩm phán về biện pháp, cơ chế để bảo đảm cho Thẩm phán giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Nhằm thiết lập các giá trị chung về đạo đức Thẩm phán và kỷ luật tư pháp, năm 1998, Hội đồng châu Âu ban hành Hiến chương châu Âu về quy chế đối với Thẩm phán. Năm 1999, Hiệp hội Thẩm phán Quốc tế đã ban hành Hiến chương toàn cầu về Thẩm phán. Năm 2001, theo sáng kiến của Liên hợp quốc và Tổ chức Minh bạch quốc tế đã phối hợp thông qua Nguyên tắc ứng xử tư pháp Bang-ga-lo.

Hiến chương toàn cầu về Thẩm phán hay còn gọi Quy chế toàn cầu của Thẩm phán là văn bản được thông qua bởi Hội đồng trung ương Hiệp hội Thẩm phán quốc tế tại Hội nghị ngày 17/11/1999 ở Đài Bắc (Đài Loan), có 15 điều quy định chung liên quan nghề nghiệp Thẩm phán như: tuyển chọn và bổ nhiệm, quyền và nghĩa vụ, các chuẩn mực đạo đức cơ bản, sự chuyên nghiệp, cơ chế chính sách về vật chất, cơ chế bảo đảm nghề nghiệp và an ninh, trách nhiệm dân sự và hình sự, chế độ hưu trí...Có thể nói, bản Hiến chương đã đưa ra những khuyến nghị cơ bản không chỉ các quy định về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán mà còn khuyến nghị đầy đủ các cơ chế, biện pháp để bảo đảm cho đạo đức nghề nghiệp được thực thi.

Với mục đích xem xét các phương thức củng cố các cơ quan và thủ tục tư pháp, tăng cường liêm chính tư pháp, năm 2000, Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) phối hợp với Tổ chức Minh bạch quốc tế tổ chức cuộc họp đầu tiên cho Chánh án và Thẩm phán cao cấp từ 08 nước châu Á và châu Phi. Tại Hội nghị này đã xây dựng Nguyên tắc ứng xử tư pháp Bang-ga-lo. Nguyên tắc ứng xử tư pháp Bang-ga-lo được xây dựng trên cơ sở nhiều văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị, các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về sự độc lập của cơ quan tư pháp, xung quanh 06 giá trị cơ bản gồm: “độc lập”, “khách quan”, “liêm chính”, “đúng mực”, “bình đẳng” và “năng lực và sự cẩn trọng”. Sau khi Nguyên tắc Bang-ga-lo được thông qua, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng trực tiếp hoặc tham khảo để phát triển, ban hành bộ quy tắc ứng xử, đạo đức tư pháp phù hợp với đặc thù riêng của mình1.

Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có văn bản nào quy định riêng về đạo đức của Thẩm phán. Tuy nhiên, qua mỗi giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước, các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp đối với Thẩm phán đã được đặt ra và quy định tại nhiều văn bản khác nhau.

Ngay từ thời phong kiến, yêu cầu về đạo đức trong thực thi công vụ đối với quan lại nói chung, quan xử án nói riêng đã được quy định trong nhiều tài liệu, điển hình là Quốc Triều hình luật (Luật Hồng Đức). Theo Luật này, tiêu chí đạo đức của quan xử án được thể hiện trong tiêu chuẩn đạo đức “trung quân, ái quốc” và “thanh liêm, chính trực”. Mặc dù, không có điều luật nào quy định chung về đạo đức của quan xử án, nhưng có thể thấy yêu cầu về tiêu chuẩn và những phẩm chất cụ thể đối với quan xử án trong chế độ phong kiến thời Lê được quy định khá rõ ràng thông qua các điều luật về chế tài đối với hành vi vi phạm phẩm chất đó; như: sự siêng năng, chuyên cần, trung thực, liêm khiết; tuân thủ các quy định khi thực thi nhiệm vụ như tôn trọng nghi thức, nghi lễ…Quốc Triều hình luật dành riêng một chương là “Chương Đoán ngục” (Chương xử án) với 65 điều quy định về xử án và giam giữ can phạm. Trong đó, đã đưa ra nhiều quy định đối với quan xử án như: xét xử phải thận trọng, không được tuỳ tiện, độc đoán2; đưa ra các chế tài cụ thể nhằm ngăn ngừa tình trạng: xét xử thiên vị, không khách quan, không công bằng3; nhũng nhiễu, nhận hối lộ4; vi phạm thời hạn xử án5...

  Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, trong những ngày đầu của Nhà nước dân chủ nhân dân, vấn đề đạo đức người Thẩm phán đã được chính quyền Cách mạng quan tâm, đề cập rất sớm trong các văn bản pháp luật. Đồng thời với việc ban hành Sắc lệnh xoá bỏ chế độ quan chức tư pháp của thời thuộc địa, Hồ Chủ Tịch đã ký sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 tổ chức các Toà án và các ngạch Thẩm phán, trong đó quy định rõ: “Thanh liêm là là một đức tính thiêng liêng của các Thẩm phán Việt Nam ngày nay” (Điều 83); “Trong đời tư và cũng như đời công, các Thẩm phán phải cư xử đúng mực và biết tự trọng để giữ thanh danh và phẩm cách một vị quan toà” (Điều 84) và khi nhận chức phải tuyên thệ: “mang hết sức và công tâm ra phụng sự chức vụ,… luôn cư xử cho xứng đáng là một vị Thẩm phán cương trực và đủ tư cách” (Điều 94).

  Cùng với việc hoàn thiện về cơ cấu, tổ chức, bộ máy của hệ thống Toà án, quy định về các tiêu chuẩn của người được bổ nhiệm Thẩm phán đã được chuẩn hoá và quy định cụ thể tại Luật tổ chức Toà án nhân dân (các năm 1960, 1981, 1992, 2002 và 2014) cũng như tại Pháp lệnh Thẩm phán và Hội Thẩm nhân dân (các năm 1993 và 2002). Theo đó, yêu cầu đối với Thẩm phán là phải có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.

Để bảo đảm khách quan, vô tư trong thực thi công vụ, luật đã quy định các trường hợp Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng, cụ thể khi giải quyết các vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bản thân và người thân thích hoặc có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ6. Bên cạnh đó, tại Chương quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp của Bộ luật hình sự (năm 1985, 1999 và 2015), một số hành vi vi phạm sự đúng đắn trong hoạt động tố tụng của Thẩm phán bị coi là tội phạm và phải chịu chế tài nghiêm khắc của pháp luật; đó là các tội: “ra bản án trái pháp luật”, “ra quyết định trái pháp luật”, “làm sai lệch hồ sơ vụ án” và “không thi hành án”7. Đây chính là những hành vi xâm phạm nghiêm trọng đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán, lợi dụng quyền năng pháp lý mà Nhà nước và Nhân dân tin tưởng giao phó để vụ lợi cá nhân; xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân.

Đối với các biểu hiện vi phạm của Thẩm phán trong thực thi công vụ, Tòa án đang áp dụng Quyết định số 1253/2008/QĐ-TANDTC ngày 18/9/2008 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân. Quyết định này áp dụng chung cho tất cả các chức danh làm việc trong hệ thống Tòa án, bao gồm cả những người làm công tác hành chính và các chức danh tư pháp. Việc áp dụng những quy tắc chung mà không tách riêng từng quy định cụ thể đối với từng chức danh trong hệ thống Toà án dễ gây ra sự không rõ ràng trong áp dụng; đặc biệt là đối với Thẩm phán, chức danh Nhà nước trao cho quyền năng pháp lý quan trọng mà không một công chức nào có được, đó là nhân danh Nhà nước phán quyết đối với các tội phạm và vi phạm pháp luật. Với đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp, bên cạnh những yêu cầu chung về phẩm chất đối với cán bộ, công chức Toà án, Thẩm phán còn có những yêu cầu riêng biệt trong thực thi nhiệm vụ và ứng xử trong đời thường. Do đó, việc xây dựng một bộ “công cụ pháp lý” làm thước đo giá trị đạo đức, phẩm chất, để mỗi Thẩm phán lấy đó làm tiêu chuẩn tự tu dưỡng, rèn luyện; để Nhà nước, Nhân dân và xã hội có thể giám sát, đánh giá được năng lực, phẩm chất của Thẩm phán trong quá trình thực thi và bảo vệ công lý là rất cần thiết; nhất là trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thiết lập bộ quy tắc đạo đức riêng biệt bảo đảm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân về Thẩm phán; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm, thông lệ quốc tế, phù hợp với tình hình thực tiễn Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết nhằm đề cao đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán, tăng cường liêm chính tư pháp; ngăn ngừa, hạn chế những tiêu cực trong xét xử.

Bộ Quy tắc đạo đức Thẩm phán phải thể hiện được các nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử; bảo đảm tính khách quan, vô tư trong các phán quyết và sự giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Toà án; tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo vệ quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật... Bộ quy tắc phải nêu được những phẩm chất đạo đức cần phải có của Thẩm phán; những chuẩn mực trong ứng xử mà Thẩm phán phải tuân thủ, để mỗi Thẩm phán không những là một công chức tốt; là người bảo vệ và thực thi công lý; mà còn là một công dân gương mẫu, biết xử sự theo lẽ công bằng trong đời sống hằng ngày.

Đạo đức của Thẩm phán trước hết phải mang đầy đủ các yếu tố của đạo đức xã hội và có những yếu tố đặc trưng riêng của nghề nghiệp. Các đặc trưng đó là:

Thứ nhất: pháp luật là cơ sở, nền tảng cho hoạt động của Thẩm phán.

Thẩm phán là những người trực tiếp áp dụng pháp luật, mọi hoạt động của Thẩm phán đều dựa trên và tuân theo các quy định, quy trình thủ tục chặt chẽ do luật định. Do đó, trình độ pháp luật là kiến thức nền tảng của Thẩm phán. Hiểu và nắm vững pháp luật để áp dụng chính xác và đưa ra đường lối giải quyết phù hợp đối với từng vụ việc cụ thể. Trình độ tinh thông pháp luật của Thẩm phán được thể hiện tập trung ở kết quả cuối cùng là bản án, quyết định. Kết quả lao động trí tuệ của Thẩm phán phải phản ánh đúng tinh thần của pháp luật và ý nguyện của Nhân dân; đồng thời phải tuân thủ quy định chặt chẽ của pháp luật cả về nội dung và hình thức.

Thứ hai: yêu cầu tinh thông về chuyên môn và các kỹ năng nghiệp vụ trong hoạt động xét xử.

Hoạt động xét xử đòi hỏi Thẩm phán phải vững vàng về chuyên môn và các kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu để có thể tìm ra được sự thật khách quan luôn được che đậy tinh vi, không dễ dàng khám phá, nhằm thiết lập công bằng xã hội, giữ gìn kỷ cương phép nước. Tội phạm, vi phạm và các tranh chấp xảy ra ở mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội. Để có một phán quyết khách quan, công bằng, đúng đắn, Thẩm phán không những phải thông hiểu pháp luật mà còn phải có những hiểu biết nhất định về nhiều lĩnh vực chuyên ngành như: y khoa, tài chính ngân hàng, kế toán, môi trường, đất đai, xây dựng…; đồng thời phải biết và sử dụng, kết hợp nhiều kỹ năng nghiệp vụ khác nhau, như: thẩm vấn, hòa giải, thuyết phục, phân tích, tổng hợp, viết bản án…Thẩm phán phải biết kết hợp nhuần nhuyễn kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ với những kinh nghiệm, hiểu biết về xã hội để có những phán quyết khuất phục được tội phạm và thuyết phục được Nhân dân. Đây là những kiến thức và kỹ năng mà người Thẩm phán luôn phải có ý thức tích luỹ, rèn luyện, trau dồi.

Thứ ba: sự độc lập và chế độ trách nhiệm cao trong thực thi nhiệm vụ.

  “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là nguyên tắc cốt lõi được ghi nhận trong Hiến pháp, trong các đạo luật về tổ chức Tòa án nhân dân và pháp luật tố tụng. Sự độc lập của Thẩm phán là một trong những điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho việc xét xử vô tư, khách quan, công bằng, không thiên vị. Trong quá trình giải quyết vụ việc, Thẩm phán phải tự đưa ra quyết định trên cơ sở đánh giá của mình về tình tiết sự việc, chứng cứ và chỉ tuân theo pháp luật; không bị tác động hoặc can thiệp từ bên ngoài.

Theo nguyên tắc độc lập, pháp luật tố tụng đã quy định trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong đó có Thẩm phán phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật; phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định, việc thực hiện quyền hạn của mình. Người vi phạm pháp luật trong việc xét xử thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật8. Với quy định đặc thù này, Thẩm phán phải có tính quyết đoán; luôn tỉnh táo, không bị dao động trước những cám dỗ và các mối quan hệ xã hội trong quá trình giải quyết các vụ án.

Thứ tư: tính nhân văn trong hoạt động của Thẩm phán.

  Sự nghiêm minh, công bằng của Nhà nước được thể hiện tại các quy định của pháp luật nhằm giữ gìn kỷ cương phép nước và trật tự xã hội. Tuy nhiên, xét xử không chỉ đơn giản là áp dụng pháp luật một cách cứng nhắc. Hoạt động xét xử là hoạt động “với con người” và “vì con người”. Phán quyết của Thẩm phán nhân danh quyền lực Nhà nước vừa tạo ra chuẩn mực pháp lý, vừa tạo ra chuẩn mực đạo đức cho xã hội. Vì vậy, khi nhân danh Nhà nước thực thi công lý, Thẩm phán phải có hiểu biết về đạo đức, tâm sinh lý của từng đối tượng; xem xét, đánh giá sự việc trong từng hoàn cảnh cụ thể trên nền tảng đạo đức để xử lý những vấn đề pháp lý liên quan đến từng số phận con người một cách thấu tình, đạt lý. Người Thẩm phán phải đóng vai trò thúc đẩy và tạo điều kiện để giữ gìn sự đoàn kết trong nhân dân, ổn định trật tự xã hội khi giải quyết các tranh chấp; tạo cơ hội cho những người mắc phải sai lầm sửa sai, tự cải tạo thành người lương thiện khi phán xét một hành vi phạm tội.

  Thứ năm: chịu sự giám sát nghiêm ngặt của Nhân dân

Thẩm phán nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực xét xử để mang lại công bằng cho xã hội. Kết quả của hoạt động xét xử làm nên nền công lý của mỗi quốc gia. Theo nguyên lý đã được Hiến định “quyền lực phải có sự phân công, phối hợp và kiểm soát”, Nhà nước đã thiết lập các cơ chế kiểm tra, giám sát…đối với hoạt động xét xử của Toà án. Điều này đòi hỏi Thẩm phán phải luôn ý thức được trách nhiệm của mình trước trọng trách được giao, tuân thủ triệt để các nguyên tắc nghề nghiệp khi thực thi công vụ, chịu sự giám sát chặt chẽ của Nhân dân và các cơ quan dân cử.

  Từ những đặc thù nghề nghiệp nêu trên, đạo đức Thẩm phán được hình thành bởi những yếu tố sau:

Một là, bản lĩnh nghề nghiệp.

Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Do đó, Thẩm phán là nghề nghiệp gắn liền với tính độc lập, tự chủ, tự quyết; khả năng phân tích và đưa ra phán quyết chính xác, hợp lý, hợp tình trên cơ sở pháp luật. Đây chính là những yếu tố phản ánh bản lĩnh nghề nghiệp của Thẩm phán; được hình thành, củng cố và phát triển trên cơ sở các phẩm chất quyết đoán, khách quan, vô tư, không bị chi phối bởi những tác động bên ngoài, nhất là những tác động mang tính chất vụ lợi cá nhân. Trong nhiều vụ án, người Thẩm phán phải ra những quyết định trong điều kiện, tình huống khó khăn; công tâm xem xét, nhận định chính xác sự thật khách quan để có được phán quyết đúng đắn. Đó chính là những thách thức thể hiện bản lĩnh chính trị, nhân cách và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán.

Hai là, tinh thần trách nhiệm và sự chuyên cần.

Tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán được thể hiện ở sự tận tuỵ và không chậm trễ trong thực hiện các công việc được giao, bảo đảm đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Pháp luật chậm trễ là pháp luật thiếu trách nhiệm và vô tâm, làm kéo dài tình trạng pháp lý căng thẳng của người dân. Thẩm phán có tinh thần trách nhiệm là người ý thức công việc mình làm, dám chịu trách nhiệm về các hành vi của mình; khẩn trương nhưng thận trọng khi xem xét, đánh giá các chứng cứ và áp dụng pháp luật trong từng vụ án cụ thể.

Ba là, sự vô tư, khách quan và công bằng trong thực thi công vụ.

Đây là một trong những nhân tố bảo đảm cho Thẩm phán thực hiện tốt nhiệm vụ xét xử, thực thi công lý. Sự công bằng, công minh là đặc trưng tiêu biểu của hoạt động xét xử. Quyền được xét xử công bằng là quyền của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật tố tụng ghi nhận. Bởi lẽ đó, trong xét xử, Thẩm phán không được thiên vị; không được phân biệt đối xử các quyền con người; không vì ác ý, cảm tình hoặc có bất kỳ định kiến nào khác để làm sai lệch kết quả xét xử; không được phát biểu hay đưa ra bất cứ bình luận nào có thể làm ảnh hưởng tới vụ việc mình đang giải quyết.

Bốn là, sự liêm chính.

Liêm chính tư pháp là đòi hỏi cơ bản của mọi quốc gia về một nền tư pháp trong sạch, với đội ngũ cán bộ tư pháp liêm khiết, dấn thân cho việc duy trì, bảo vệ lẽ phải và công lý. Liêm chính là giá trị hình thành nên nhân cách, là phẩm chất cốt lõi của người Thẩm phán. Liêm chính là phẩm chất để đấu tranh loại bỏ tham nhũng; sự suy thoái về tư tưởng, chính trị; phẩm chất đạo đức, làm xói mòn tính công bằng của Tòa án. Vì vậy, Thẩm phán không được lợi dụng quyền năng pháp lý của mình để thúc đẩy lợi ích cá nhân; không được để bất kỳ ai, không phụ thuộc vào vị trí công tác và địa vị của họ, các đồng nghiệp, người thân thích, bạn bè hoặc người quen tác động, ngăn cản, làm sai lệch hoạt động xét xử.

Năm là, năng lực chuyên nghiệp.

Thẩm phán có đạo đức nghề nghiệp phải là người có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ tinh thông để ban hành các bản án hay quyết định khách quan, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Năng lực được coi là yếu tố đầu tiên tạo nên đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán. Tinh thông về nghiệp vụ, thành thạo trong sử dụng những kỹ năng là những yêu cầu bắt buộc đối với các Thẩm phán. Thẩm phán phải luôn trau dồi và củng cố kiến thức, kỹ năng để bồi dưỡng năng lực; luôn cập nhật thông tin về tình hình phát triển của luật pháp trong nước và luật pháp quốc tế; các vấn đề quan trọng của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội nhằm tạo sự hiểu biết sâu sắc về mọi vấn đề của cuộc sống để áp dụng pháp luật đúng đắn nhất.

Sáu là, sự đúng mực trong ứng xử.

  Người dân đặt niềm tin vào công lý và công bằng xã hội thông qua cách hành xử và tư cách của Thẩm phán. Đây là nhân tố quan trọng để bảo vệ phẩm chất, nhân cách, niềm tin và sự tôn trọng của Nhân dân đối với Thẩm phán và Tòa án. Điều này đặt ra yêu cầu, trong mọi hoạt động của mình, Thẩm phán phải luôn thể hiện sự đúng mực, hành xử văn hóa và khiêm tốn. Thẩm phán phải chấp nhận mọi sự hạn chế cá nhân để ứng xử văn minh trong mọi hoàn cảnh. Thẩm phán phải duy trì trật tự và sự tôn nghiêm trong quá trình tố tụng tại Tòa án; luôn thể hiện sự kiên nhẫn, nghiêm túc và nhân ái đối với các bị cáo, đương sự, người tham gia tố tụng.

Bên cạnh đó, khi thực hiện công vụ tại cơ quan; giao tiếp với các cơ quan, tổ chức có quan hệ công tác và truyền thông, báo chí; các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; trong các hoạt động bên ngoài nhiệm vụ xét xử; trong cuộc sống hàng ngày tại nơi cư trú, trong gia đình, ở nơi công cộng, Thẩm phán phải xử sự phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội; tuân thủ tuyệt đối những quy tắc nghề nghiệp để không ảnh hưởng đến hoạt động xét xử; như: không được phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án khi vụ án đó chưa hoặc đang trong quá trình xét xử; không được lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi khi tham gia hoạt động xã hội…; phải nêu gương về đạo đức, giáo dục ý thức tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật đối với các thành viên trong gia đình cũng như dân cư nơi cư trú…

Tóm lại, bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, sự vô tư, khách quan và công bằng trong thực thi nhiệm vụ; đức tính thanh liêm và trung thực; sự đúng mực trong ứng xử…có quan hệ chặt chẽ với nhau; yếu tố này là điều kiện hình thành phát triển yếu tố kia, tạo nên phẩm chất đạo đức của Thẩm phán. Để có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, Thẩm phán phải có tinh thần trách nhiệm, luôn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trau dồi phẩm chất đạo đức, chính trị. Hiểu biết sâu sắc về chuyên môn nghiệp vụ; thành thạo, nhuần nhuyễn trong vận dụng pháp luật; nhạy bén trong xử lý công việc sẽ giúp Thẩm phán độc lập, khách quan trong giải quyết công việc.

Tất cả những phẩm chất nêu trên có được không phải do bẩm sinh, mà được hình thành, phát triển và hoàn thiện qua quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng thông qua hoạt động thực tiễn của Thẩm phán. Để hình thành những phẩm chất tốt đẹp đó, đòi hỏi một quá trình phấn đấu lâu dài và bền bỉ; trong đó, yếu tố tự rèn luyện và tự bồi dưỡng là đặc biệt quan trọng đối với mỗi Thẩm phán. Đồng thời, phải có bộ “công cụ pháp lý” làm kim chỉ nam cho mọi hành động của Thẩm phán; để nhắc nhở mỗi Thẩm phán sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Bằng toàn bộ công việc và các hành vi ứng xử, ở bất cứ nơi nào và vào bất cứ lúc nào, Thẩm phán đều phải soi vào các chuẩn mực của Bộ quy tắc để có được niềm tin của công chúng vào sự thanh liêm, tài năng và đức độ của Thẩm phán.

image

1 Xem “Hướng dẫn tăng cường năng lực và liêm chính tư pháp” của Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hiệp quốc (UNODC), xuất bản tiếng Việt năm 2013 – trang 128.

2 “Ngày quyết tụng, quan đại thần và các quan xét án đều phải hội đồng lại, xét hỏi kĩ càng cho rõ sự phải trái, cốt để mọi người đều yên lòng. Nếu có điều chưa rõ phải thẩm xét lại, không được cố chấp ý riêng mình, bắt mọi người phải theo, bày ra lí này lí khác để có người mắc oan. Luật này cũng không cho phép những quan phụ thẩm lúc đông đủ mọi người không hết bổn phận tranh biện về sau lại có câu nghị luận khác” (Điều 720). “Người xét xử cũng phải tránh chịu sự chi phối của cảm xúc cá nhân vui mừng, giận dữ” (Điều 713).

3 “Các ngục quan xét án, thấy việc có liên can đến quan chức hay nhà quyền thế, nhưng chiếu luật đáng xử tội, mà che chở, không khép vào tội thì sẽ xử tội như kẻ phạm tội kia mà cho giảm hai bậc” (Điều 674). “Xét xử theo ý riêng mình thì bị biếm một tư” (Điều 683).

4 “Ngục quan và ngục lại dung túng cho những người kiện tụng đi lại nhà riêng mình để xúi bảo, nếu nhân vì việc ấy mà ăn hối lộ, thì phải khép vào tội làm trái luật tuỳ theo việc nặng nhẹ mà định tội” (Điều 711).

5 “Các quan xét án chần chờ quá hạn không xét xử thì bị tội theo luật định (Điều 671).

6 Điều 53 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 46 Luật tố tụng hành chính năm 2015, Điều 47 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

7 Điều 295, Điều 296, Điều 300, Điều 305 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 370, Điều 371, Điều 375, Điều 379 Bộ luật hình sự năm 2015.

8 Điều 17 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 4 Điều 13 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 4 Điều 22 Luật Tố tụng hành chính.


Lượt xem: 609
ácdscv