Skip to main content

Báo cáo tóm tắt về công tác năm 2012 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013 của ngành TAND

(18/01/2013 11:43)

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

-----------------

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – tự do – Hạnh phúc

-----------------

Hà nội, ngày 18 tháng 01 năm 2013

BÁO CÁO TÓM TẮT

VỀ CÔNG TÁC NĂM 2012 VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM

CÔNG TÁC NĂM 2013 CỦA NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN

Năm 2012, mặc dù yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đối với ngành Tòa án nhân dân là rất nặng nề, nhưng được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quốc hội; sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành ở trung ương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng như các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Ban cán sự Đảng, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao; sự cố gắng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của toàn thể cán bộ, công chức và Hội thẩm ngành Tòa án nhân dân, nên công tác Tòa án trong năm qua tiếp tục có những chuyển biến tích cực, về cơ bản ngành Tòa án nhân dân đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

I. VỀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ CÔNG TÁC

1. Về công tác chuyên môn nghiệp vụ

1.1. Công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án

Toàn ngành đã giải quyết 332.868/360.941 vụ án các loại, đạt 92%; số vụ án còn lại hầu hết còn trong thời hạn và đang được tiếp tục giải quyết theo quy định của pháp luật. So với cùng kỳ năm trước, số vụ án đã thụ lý tăng 34.673 vụ; đã giải quyết tăng 33.559 vụ. (số liệu cụ thể về tình hình thụ lý, giải quyết các loại vụ án đã được nêu tại trang 2,4 và 5 của Báo cáo chính thức).

Mặc dù số lượng các vụ án tăng hơn so với cùng kỳ năm trước khoảng 10% nhưng do chủ động nắm bắt tình hình, đề ra nhiều biện pháp và tổ chức thực hiện nghiêm túc, quyết liệt trong toàn ngành, trong đó chú trọng công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm và kỷ luật công vụ cho cán bộ, công chức; tăng cường công tác kiểm tra; phát động các phong trào thi đua gắn với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn..., nên công tác xét xử trong năm qua tiếp tục có sự chuyển biến tích cực. Chỉ tiêu xét xử các loại vụ án tiếp tục được bảo đảm; hầu hết các vụ án đều được giải quyết, xét xử trong thời hạn luật định. Chất lượng xét xử các loại vụ án tiếp tục được đảm bảo và nâng lên, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan về hình sự giảm 0,2%; về dân sự giảm 0,4% và về hành chính giảm 1,6%.

Nhìn chung, việc xét xử các vụ án hình sự bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; hình phạt áp dụng đối với các bị cáo đảm bảo nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm. Nhiều vụ án lớn đặc biệt nghiêm trọng về an ninh quốc gia, mua bán trái phép chất ma túy, giết người, cướp tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng... đã được đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh; đồng thời đã tổ chức 7.817 phiên tòa xét xử lưu động, đáp ứng yêu cầu chính trị và đấu tranh phòng, chống tội phạm của các địa phương cũng như cả nước.

Việc giải quyết các vụ việc dân sự và hành chính về cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng và áp dụng đúng các quy định của pháp luật nội dung, nên đã bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự; đồng thời các Tòa án đã làm tốt công tác hòa giải trong giải quyết các vụ việc dân sự và tổ chức tốt việc đối thoại trong giải quyết các vụ án hành chính, thông qua đó giúp cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng, góp phần củng cố mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân và tăng cường uy tín của cơ quan nhà nước.

Một số khuyết điểm, thiếu sót đã được tập trung khắc phục khá hiệu quả; đã hạn chế với tỷ lệ thấp nhất số lượng các vụ án để quá thời hạn xét xử; số lượng các trường hợp cho hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật chỉ chiếm 0,25% trên tổng số các bị cáo được Tòa án cho hưởng án treo và bằng 0,067% trên tổng số bị cáo đã xét xử; số lượng các bản án tuyên không rõ ràng giảm 600 trường hợp.

1.2. Công tác giám đốc kiểm tra và giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Năm 2012, Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết 6.078/10.541 đơn(vụ) đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm (bằng 58%), tăng hơn cùng kỳ năm trước 933 đơn(vụ). Hầu hết các đơn sắp hết thời hạn kháng nghị và các đơn bức xúc, kéo dài đã được tập trung giải quyết dứt điểm. Tòa án nhân dân tối cao đã nghiêm túc tiếp thu các ý kiến đóng góp và kiến nghị của cử tri, Đại biểu Quốc hội, Đoàn Đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức để triển khai thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình theo hướng chú trọng nâng cao chất lượng, nhưng đồng thời không để quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật. Vì vậy, kết quả giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm không chỉ đạt tỷ lệ cao nhất trong những năm qua mà chất lượng việc xem xét đơn, quyết định kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm tiếp tục được bảo đảm, hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp đã trả lời không có căn cứ kháng nghị nhưng sau đó người có thẩm quyền lại kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Công tác giám đốc kiểm tra của Toà án cấp trên đối với Toà án cấp dưới được duy trì thường xuyên và nghiêm túc. Đặc biệt để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong khắc phục việc để các vụ án quá thời hạn xét xử, trên cơ sở kết quả kiểm tra và tự kiểm tra của các đơn vị trong toàn ngành, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức Hội nghị về đánh giá thực trạng, nguyên nhân và đề ra các giải pháp khắc phục tình trạng này.

1.3. Công tác xây dựng pháp luật và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật

Về công tác xây dựng pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng, trình và được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua 01 Pháp lệnh; tham gia ý kiến trong quá trình xây dựng nhiều văn bản luật, pháp lệnh do các cơ quan khác chủ trì soạn thảo; triển khai tổng kết 10 năm thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, tổng kết thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Luật Phá sản năm 2004 và phối hợp triển khai hoạt động khảo sát về “Thực trạng thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999”.

Về công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua 05 nghị quyết và phối hợp với các ngành ban hành 02 thông tư liên tịch. Ngoài ra, Tòa án nhân dân tối cao còn ban hành nhiều công văn trao đổi nghiệp vụ với các Tòa án địa phương về áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án cụ thể.

1.4. Công tác thi hành án hình sự và xét miễn, giảm các khoản thu nộp ngân sách nhà nước

Các Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án hình sự đối với 112.673 người bị kết án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đạt tỷ lệ 99%; ra quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 56.535 phạm nhân do cải tạo tốt; xét miễn, giảm các khoản thu nộp ngân sách nhà nước đối với 7.219 trường hợp với tổng số tiền được miễn, giảm là trên 18 tỷ đồng. Về cơ bản, việc ra các quyết định thi hành án hình sự đảm bảo kịp thời, không để quá hạn luật định; việc hoãn, tạm đình chỉ thi hành án, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù, miễn, giảm các khoản thu nộp ngân sách nhà nước đều có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Việc ra quyết định kháng nghị hoặc không kháng nghị và trình Chủ tịch nước xem xét đơn xin ân giảm hình phạt tử hình đã được Chánh án Toà án nhân dân tối cao thực hiện đúng quy định của pháp luật.

2. Về công tác xây dựng ngành

2.1. Công tác tổ chức cán bộ

Trong công tác tổ chức cán bộ, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức thực hiện nghiêm túc việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI trong toàn ngành, thông qua đó đã góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm trong cán bộ, Đảng viên, đặc biệt là các cán bộ chủ chốt. Đã triển khai xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực của ngành Tòa án nhân dân giai đoạn 2012 - 2020. Với 510 cán bộ được tuyển dụng và 229 Thẩm phán trung cấp và Thẩm phán sơ cấp được bổ nhiệm mới trong năm 2012, đội ngũ cán bộ, Thẩm phán Tòa án các cấp tiếp tục được củng cố, kiện toàn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức Tòa án, nhất là các cán bộ có chức danh tư pháp được tiến hành thường xuyên, thông qua đó kịp thời phát hiện các sai sót trong công tác nghiệp vụ, quản lý cán bộ và những hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong ngành để có biện pháp xử lý, đồng thời đề ra các biện pháp nâng cao kỷ luật công vụ của cán bộ, công chức trong toàn ngành.

Về quản lý Hội thẩm Tòa án, Các Tòa án đều thực hiện đầy đủ các chế độ, tiêu chuẩn của Nhà nước đối với Hội thẩm và tổ chức tập huấn về nghiệp vụ cho các Hội thẩm theo một nội dung chương trình thống nhất của Tòa án nhân dân tối cao.

2.2. Công tác quản lý kinh phí và cơ sở vật chất

Việc phân bổ kinh phí năm 2012 cho các đơn vị trong toàn ngành được tiến hành kịp thời, đúng thời gian, định mức, đảm bảo công khai, minh bạch. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, Tòa án nhân dân tối cao chỉ tập trung kinh phí để thanh quyết toán cho các công trình đã hoàn thành và cấp cho các công trình chuyển tiếp (đã khởi công xây dựng hoặc đang được cải tạo, mở rộng) để sớm hoàn thành và đưa vào sử dụng. Trong năm qua, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã đầu tư 70 tỷ đồng để trang bị các điều kiện, phương tiện làm việc cho các Tòa án. Qua kiểm tra cho thấy, nhìn chung các đơn vị đều sử dụng kinh phí đúng mục đích; chi tiêu hiệu quả, tiết kiệm, tập trung chủ yếu cho các hoạt động nghiệp vụ; không để xảy ra tiêu cực, lãng phí trong quản lý và chi tiêu ngân sách.

2.3. Công tác đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ

Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục phối hợp với Bộ Tư pháp đào tạo nghiệp vụ xét xử cho 560 cán bộ Tòa án, đồng thời chủ động xây dựng các Đề án về đào tạo của ngành. Đặc biệt đã đề xuất và được Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương đứng đầu là Đồng chí Chủ tịch nước ủng hộ nên Bộ Chính trị đã kết luận giao cho Tòa án nhân dân tối cao thực hiện chức năng đào tạo đối với cán bộ, công chức trong ngành. Trong năm 2012 đã tổ chức 56 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ và tập huấn các văn bản pháp luật mới cho trên 7.000 lượt học viên là Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án; đồng thời, tập trung củng cố đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, các trang thiết bị cho Trường cán bộ Tòa án và nghiên cứu đổi mới giáo trình, tài liệu, phương pháp giảng dạy để đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, tập huấn cán bộ trong tình hình hiện nay.

3. Về một số công tác khác

Cùng với việc thực hiện tốt công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án và công tác xây dựng ngành, trong năm qua ngành Tòa án nhân dân đã triển khai thực hiện có hiệu quả nhiều mặt công tác khác, cụ thể là:

Ngành Tòa án nhân dân đã tích cực tham gia vào việc tổng kết và đề xuất sửa đổi các quy định của Hiến pháp năm 1992, trong đó có các quy định hoặc vấn đề liên quan tới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân.

Thực hiện Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn các Tòa án địa phương xây dựng Đề án thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực ở địa phương mình, trên cơ sở đó, xây dựng báo cáo Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương về cơ sở lý luận và thực tiễn; tính ưu việt, hạn chế; những thuận lợi, khó khăn và hướng khắc phục khi thực hiện chủ trương thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực để báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Ngoài ra, căn cứ vào các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và sự phân công của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao đang triển khai nghiên cứu, xây dựng nhiều đề án quan trọng liên quan tới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân.

Hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế của ngành Tòa án nhân dân trong năm qua tiếp tục được tăng cường với phương châm chủ động mở rộng quan hệ hợp tác với Tòa án các nước trên thế giới và trong khu vực. Các thỏa thuận hợp tác đã ký kết với Tòa án tối cao một số nước, đặc biệt là Tòa án tối cao của các nước bạn Lào, Campuchia; các dự án hỗ trợ kỹ thuật với các tổ chức quốc tế tiếp tục được triển khai thực hiện có hiệu quả. Bên cạnh đó, các mặt công tác khác, như công tác văn phòng, thống kê - tổng hợp, thông tin tuyên truyền và các hoạt động thể thao, văn hóa xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị chung của toàn ngành.

Công tác thi đua khen thưởng cũng có nhiều đổi mới, các phong trào thi đua đều gắn với việc thực hiện “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, theo chủ đề xuyên suốt là “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”. Kết quả bình xét thi đua khen thưởng năm 2012, có 77 tập thể được đề nghị tặng Cờ Thi đua của ngành Tòa án nhân dân và 19 tập thể được đề nghị tặng Cờ Thi đua của Chính phủ; 276 cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua ngành Tòa án nhân dân; 510 tập thể đạt danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc…

II. VỀ KHUYẾT ĐIỂM, THIẾU SÓT; NGUYÊN NHÂN

VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

1. Về khuyết điểm, thiếu sót

Mặc dù trong năm qua, hoạt động của các Tòa án đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên ở mỗi mặt công tác cũng còn có những khuyết điểm, thiếu sót nhất định (các khuyết điểm, thiếu sót này đã được phân tích ở từng mục đánh giá về các lĩnh vực công tác trong Báo cáo chính). Trong đó, các khuyết điểm, thiếu sót chủ yếu là: tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán chưa giảm mạnh; chưa khắc phục triệt để việc để các vụ án quá thời hạn xét xử; mặc dù còn trong thời hạn giải quyết nhưng số lượng đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chưa được xem xét, giải quyết còn nhiều; công tác hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu công tác xét xử; chưa khắc phục triệt để tình trạng thiếu cán bộ, Thẩm phán ở một số Tòa án địa phương, nhất là các Tòa án khu vực phía Nam, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc; tinh thần trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, Thẩm phán còn yếu, một số trường hợp tiêu cực, sa sút phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật, thậm chí có trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Nguyên nhân và các giải pháp khắc phục khuyết điểm, thiếu sót

Nguyên nhân và các giải pháp khắc phục các khuyết điểm, thiếu sót chủ yếu trong công tác Tòa án cũng đã được nêu cụ thể từ trang 21 đến trang 27 của Báo cáo. Các nguyên nhân chủ quan chủ yếu là:

- Lãnh đạo của một số Tòa án nhân dân địa phương chưa phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm, năng lực quản lý và điều hành còn hạn chế.

- Vẫn còn một số Thẩm phán, cán bộ Toà án hạn chế về năng lực, trình độ và bản lĩnh nghề nghiệp; tinh thần trách nhiệm trong công tác chưa cao.

- Phương pháp, lề lối làm việc và thủ tục hành chính - tư pháp tại các Tòa án chậm được đổi mới; thái độ phục vụ nhân dân của một số cán bộ Tòa án còn mang tính quan liêu, thậm chí có trường hợp còn hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà cho đương sự. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của Tòa án còn hạn chế.

Để khắc phục các khuyết điểm, thiếu sót, các nhóm giải pháp cơ bản được đề ra là:

- Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn công tác xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp và công tác giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới.

- Tiếp tục kiện toàn về tổ chức, cán bộ cho các Tòa án; thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động cán bộ để bổ sung cán bộ, Thẩm phán cho các Tòa án, nhất là các Tòa án nhân dân cấp huyện và các đơn vị có số lượng lớn các vụ án phải giải quyết. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho cán bộ, công chức; tăng cường kỷ luật công vụ và công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, ngăn chặn vi phạm, đồng thời xử lý nghiêm minh đối với các tập thể, cá nhân cán bộ, công chức có hành vi vi phạm.

- Đổi mới phương thức tổ chức chỉ đạo, điều hành và thủ tục hành chính tư pháp theo hướng nhanh, gọn, hiệu quả và hiệu lực; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của Tòa án; phân công, phân cấp hợp lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm và quy định cụ thể về chế độ trách nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các đơn vị. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Đảng, chính quyền ở trung ương và địa phương để triển khai thực hiện tốt các mặt công tác của Tòa án.

- Đẩy mạnh các phong trào thi đua với chủ đề xuyên suốt là “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” theo phương châm “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” gắn với việc hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của ngành.

III. MỘT SỐ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM CÔNG TÁC NĂM 2013

CỦA NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN

Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị của mình, một số nhiệm vụ trọng tâm công tác của ngành Tòa án nhân dân trong năm 2013 được xác định là:

1. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI và các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác tư pháp và cải cách tư pháp, gắn việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của ngành với việc thực hiện các yêu cầu của cải cách tư pháp.

2. Tiếp tục xác định việc đổi mới thủ tục tranh tụng tại phiên tòa; cải cách hành chính tư pháp và làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, Thẩm phán là những khâu đột phá để nâng cao hiệu quả công tác xét xử. Tập trung làm tốt công tác hòa giải các vụ việc dân sự và tăng cường đối thoại trong giải quyết các vụ án hành chính. Cải tiến cơ chế và thực hiện tốt các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

3. Tăng cường công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Toà án trong sạch, vững mạnh. Xây dựng các quy định, quy chế tăng cường kỷ luật công vụ và công tác kiểm tra, thanh tra. Triển khai và thực hiện nghiêm túc Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật phòng, chống tham nhũng và Quy chế dân chủ ở cơ sở.

4. Tổ chức thực hiện tốt việc lấy ý kiến cán bộ, công chức Tòa án các cấp về dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Khẩn trương hoàn thiện các dự án Luật, Pháp lệnh được giao chủ trì soạn thảo. Đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Làm tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án các cấp. Khẩn trương chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, giáo trình, tài liệu để thực hiện tốt công tác đào tạo theo Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về việc đào tạo cán bộ của ngành Tòa án nhân dân.

5. Tăng cường cơ sở vật chất và điều kiện phương tiện làm việc cho các Tòa án. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cải tiến tiền lương và các chính sách đặc thù áp dụng đối với cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân.

6. Mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế nhất là với các nước bạn Lào, Campuchia; tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế liên quan tới công tác Tòa án; chuẩn bị tốt nguồn nhân lực tham gia vào các định chế tài phán quốc tế trong quá trình hội nhập quốc tế theo chủ trương và sự phân công của Đảng, Nhà nước.

7. Đề cao công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh hơn nữa các phong trào thi đua, đặc biệt là phong trào thi đua “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” với phương châm “gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” gắn với tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn ngành Toà án nhân dân và cuộc vận động “Nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ Thẩm phán, cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân”.

Để hoàn thành tốt các nhiệm vụ công tác trong năm 2013, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu các đơn vị trong toàn ngành phải xây dựng kế hoạch cụ thể và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013 được đề ra tại Hội nghị này; cán bộ, công chức trong toàn ngành cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, không ngừng học tập rèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, đồng thời nỗ lực phấn đấu hơn nữa trên mỗi cương vị công tác của mình.


Lượt xem: 153
ácdscv