Skip to main content

  • VBQPPL:

    - BLTTDS (các điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 92, 93)

    - Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

    Công việc chính và kỹ năng thực hiện :

    •Thẩm phán phải tiến hành một số biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ nếu thấy đương sự đã cung cấp và bổ sung tài liệu, chứng cứ nhưng chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án (Điều 85 BLTTDS).

    •Chỉ khi đương sự có yêu cầu (yêu cầu này có thể được thể hiện bằng văn bản riêng, có thể ghi trong bản khai, ghi trong biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất và nếu đương sự trực tiếp đến Toà án yêu cầu thì lập biên bản ghi rõ yêu cầu của đương sự), Thẩm phán tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ sau:

    -Ghi lời khai của đư¬ơng sự trong trường hợp đương sự không thể tự viết được; lấy lời khai của ngư¬ời làm chứng (xét thấy cần thiết, có thể bảo đảm cho việc giải quyết được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật), tiến hành đối chất giữa các đương sự với nhau (xét thấy có mâu thuẫn trong các lời khai) (Điều 86 và Điều 88 BLTTDS);

    -Thủ tục lấy lời khai phải tuân theo đúng các quy định tại Điều 86, Điều 87 và Điều 88 BLTTDS;

    +Việc lấy lời khai của đương sự phải do Thẩm phán tiến hành; Thư ký Toà án chỉ có thể giúp Thẩm phán ghi lời khai của đương sự vào biên bản. Thẩm phán lấy lời khai của đương sự tại trụ sở Toà án. Trong trường hợp đương sự không thể đến Toà án được vì những lý do khách quan, chính đáng (đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, ốm đau, bệnh tật...) thì Thẩm phán có thể lấy lời khai của đương sự ngoài trụ sở Toà án;

    +Trong trường hợp đương sự là người không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, hoặc người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này tại Toà án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện thì khi lấy lời khai của họ phải có mặt người đại diện hợp pháp của họ và người đại diện này phải ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào biên bản ghi lời khai;

    -Thu thập chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không tự mình thu thập được. Thẩm phán có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp chứng cứ tài liệu;

    -Thẩm phán ra quyết định tr¬ưng cầu giám định, giám định bổ sung, giám định lại nếu có sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên, hoặc trường hợp chứng cứ bị tố cáo là giả mạo.Thẩm phán cần giải thích cho đương sự biết về nghĩa vụ nộp tiền chi phí tương ứng (chi phí giám định, tiền tạm ứng chi phí định giá...). Thẩm phán chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng, nếu thuộc trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng;

    +Thẩm phán căn cứ vào Điều 90 BLTTDS, Pháp lệnh giám định tư pháp, Nghị định 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giám định tư pháp để ra quyết định trưng cầu giám định;

    +Theo quy định tại Điều 92 BLTTDS, Thẩm phán ra Quyết định định giá tài sản đang tranh chấp nếu một hoặc các bên đương sự yêu cầu, hoặc có căn cứ cho thấy các bên thoả thuận theo mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí;

    +Thẩm phán xem xét tài sản định giá là loại tài sản nào, có liên quan đến cơ quan chuyên môn nào, Hội đồng định giá cần phải có bao nhiêu thành viên và trong trường hợp cụ thể cần cử đại diện cơ quan nào làm Chủ tịch Hội đồng định giá. Thẩm phán gửi công văn cho các cơ quan chuyên môn đề nghị cử cán bộ làm Chủ tịch và uỷ viên Hội đồng định giá, nêu rõ yêu cầu cụ thể đối với Chủ tịch, uỷ viên Hội đồng định giá và thời hạn cơ quan chuyên môn có công văn trả lời;

    +Sau khi nhận được công văn trả lời, Thẩm phán kiểm tra những người được cử có đáp ứng yêu cầu không, có ai trong số họ là người thân thích với đương sự trong vụ án không, nếu có thì đề nghị cơ quan chuyên môn cử người khác thay thế;

    +Quyết định định giá cần có các nội dung chính: ngày tháng năm ra quyết định và tên của Toà án ra quyết định; tài sản cần định giá; họ tên, cơ quan công tác của Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng định giá; nhiệm vụ của Hội đồng định giá; thời gian, địa điểm tiến hành định giá;

    +Thẩm phán cần cử một thư ký Toà án để giúp việc cho Hội đồng định giá ghi biên bản về việc tiến hành định giá;

    +Trong trường hợp có người cản trở việc định giá thì Thẩm phán yêu cầu đại diện Uỷ ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức có biện pháp can thiệp, hỗ trợ kịp thời. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán yêu cầu lực lượng Cảnh sát và hỗ trợ tư pháp thuộc Công an nhân dân có thẩm quyền để có các biện pháp can thiệp theo quy định tại Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10/9/2003 của Bộ Công an “Hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an”.

    -Thẩm phán tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ nếu thấy cần thiết. Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản theo quy định tại Điều 89 BLTTDS;

    +Khi đương sự có yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và xét yêu cầu đó là có căn cứ, Thẩm phán ra quyết định tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ;

    +Quyết định xem xét, thẩm định phải ghi rõ ngày tháng năm ra quyết định và tên Toà án ra quyết định, đối tượng và những vấn đề cần xem xét, thẩm định tại chỗ; thời gian, địa điểm tiến hành việc xem xét, thẩm định tại chỗ;

    +Quyết định trên phải được gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định kèm theo văn bản đề nghị Uỷ ban nhân dân hoặc cơ quan, tổ chức cử đại diện tham gia. Cần liên hệ để họ có mặt theo ngày giờ đã định trong quyết định. Trong trường hợp vắng mặt một trong các đại diện trên thì Thẩm phán phải hoãn việc xem xét, thẩm định tại chỗ;

    +Quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ phải được giao hoặc gửi cho đương sự để họ biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Nếu có đương sự vắng mặt thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ vẫn được tiến hành theo thủ tục chung.

    -Về uỷ thác thu thập chứng cứ phải thực hiện đúng Điều 93 BLTTDS

    +Trường hợp đương sự hoặc nhân chứng ở quá xa hoặc bị ốm đau; tài sản tranh chấp ở một huyện, tỉnh khác, thì Tòa án đang thụ lý vụ án có thể uỷ thác cho Toà án huyện nơi ở của đương sự, nhân chứng hoặc nơi có tài sản đang tranh chấp lấy lời khai của đương sự, nhân chứng hoặc xem xét tài sản đó;

    +Trong quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ cần tóm tắt vụ kiện, nêu đầy đủ các câu hỏi cần đặt ra cho đương sự hoặc nhân chứng, hoặc những yêu cầu cụ thể về xem xét tại chỗ tài sản tranh chấp;

    +Toà án được uỷ thác thu thập chứng cứ có thể qua lời khai của đương sự, nhân chứng mà thấy cần đặt các câu hỏi khác thì có quyền đặt những câu hỏi cần thiết.

    •Thẩm phán chỉ có thể tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ sau đây:

    -Lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (khoản 1 Điều 87 BLTTDS);

    -Đối chất khi xét thấy có mâu thuẫn trong các lời khai của các đương sự (khoản 1 Điều 88 BLTTDS);

    -Định giá tài sản trong trường hợp các bên thoả thuận mức giá thấp nhằm mục đích trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí (điểm b khoản 1 Điều 92 BLTTDS).

    •Khi đư¬ơng sự cung cấp, bổ sung chứng cứ về vụ việc mà họ yêu cầu Toà án giải quyết, Thẩm phán phải lập Biên bản về việc giao nhận chứng cứ với đầy đủ nội dung theo quy định tại khoản 2 điều 84 BLTTDS.

    •Khi yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ cần nêu cụ thể những chứng cứ cần giao nộp bổ sung.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM - SỔ TAY THẨM PHÁN TÒA ÁN

Truy cập trong ngày:

Tổng số lượng truy cập:

Địa chỉ: 48 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.39363528 • Fax : 04.39363528
Email: banbientap@toaan.gov.vn, sotaythuky@toaan.gov.vn
Trưởng Ban biên tập: Ông Ngô Tiến Hùng - Chánh Văn phòng Tòa án nhân dân tối cao.

Giấy phép cung cấp thông tin trên Internet số 184/GP-TTĐT của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Ghi rõ nguồn Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn) khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.
Bản quyền thuộc Tòa án nhân dân tối cao.

ácdscv