Skip to main content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

image

Số: /BC-TANDTC

DỰ THẢO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

image

Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2019

BÁO CÁO TÓM TẮT

Sơ kết 03 năm thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

và các văn bản triển khai thi hành

––––––––––

I. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THI HÀNH LUẬT TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN NĂM 2014

1. Về tổ chức của các Tòa án nhân dân

Hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo 4 cấp, bao gồm Tòa án nhân dân tối cao, 03 Tòa án nhân dân cấp cao, 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và 710 Tòa án nhân dân cấp huyện. Nếu xét theo thẩm quyền xét xử, hệ thống Tòa án nhân dân được cơ cấu thành 773 Tòa án cấp sơ thẩm, 66 Tòa án cấp phúc thẩm, 04 cơ quan xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Cơ cấu tổ chức của mỗi Tòa án đã và đang được kiện toàn theo đúng quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cụ thể như sau:

1.1. Việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của Tòa án nhân dân tối cao

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã trình Quốc hội phê chuẩn, trình Chủ tịch nước bổ nhiệm 17 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Bộ máy giúp việc được tổ chức theo hướng tinh gọn, phân định rõ các chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị nhằm bảo đảm giúp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ.

Học viện Tòa án được thành lập theo Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày 30-7-2015 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở kế thừa chức năng, nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Trường Cán bộ Tòa án.

1.2. Việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của Tòa án nhân dân cấp cao

Ngày 28-5-2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 957/NQ-UBTVQH13 thành lập 03 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.

Về nhân sự, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã trình Chủ tịch nước chuyển đổi 66 Thẩm phán cao cấp trong số 120 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 để phân bổ cho các Tòa án nhân dân cấp cao; xem xét, thông qua phương án sắp xếp, bố trí cán bộ cho các Tòa án nhân dân cấp cao với tổng số 309 cán bộ; đồng thời, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo và cử thành viên Ủy ban Thẩm phán của các Tòa án nhân dân cấp cao.

Về tổ chức bộ máy, các Tòa chuyên trách, bộ máy giúp việc của các Tòa án nhân dân cấp cao được thành lập, bảo đảm phù hợp với khối lượng công việc và đặc thù của từng Tòa án.

1.3. Việc kiện toàn tổ chức, bộ máy của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện

Ngày 21-01-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 01/2016/TT-CA quy định về việc tổ chức các Tòa chuyên trách tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII của Đảng. Hiện nay, toàn hệ thống Tòa án có 247 Tòa chuyên trách tại 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giảm 34 Tòa chuyên trách so với trước đây; 142 Tòa chuyên trách tại 71/710 Tòa án nhân dân cấp huyện.

Ngày 07-4-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quyết định số 345/2016/QĐ-CA về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trong bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện. Đến nay, bộ máy giúp việc của các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện cơ bản đã được kiện toàn đầy đủ và đi vào hoạt động hiệu quả.

2. Về tổ chức của các Tòa án quân sự

Ngay sau khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân có hiệu lực thi hành, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã trình Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước bổ nhiệm Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự Trung ương; trình Chủ tịch nước chuyển đổi 12 Thẩm phán cao cấp trong số 120 Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trước đây để phân bổ cho Tòa án quân sự Trung ương; thành lập Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương; thành lập bộ máy giúp việc của Tòa án quân sự Trung ương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương.

Theo Nghị quyết số 571/NQ-UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hệ thống Tòa án quân sự gồm có Tòa án quân sự Trung ương, 09 Tòa án quân sự quân khu và tương đương, 10 Tòa án quân sự khu vực, với tổng biên chế là 310 cán bộ.

3. Về công tác quản lý các Tòa án nhân dân về tổ chức

Cùng với việc nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế trong công tác tổ chức cán bộ theo quy định mới của Đảng, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Tòa án nhân dân tối cao đang xây dựng các quy định cụ thể về việc phân cấp quản lý cán bộ trong Tòa án nhân dân, dự kiến sẽ được ban hành trong năm 2019.

4. Về Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án nhân dân

4.1. Việc kiện toàn đội ngũ Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án

Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức thành công 08 kỳ thi tuyển chọn, nâng ngạch Thẩm phán quốc gia cho 2.964 thí sinh; tổ chức thi nâng ngạch Thẩm tra viên chính, Thư ký viên chính cho 189 thí sinh. Tính đến ngày 30-9-2018, đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và cán bộ, công chức khác cơ bản đã được củng cố, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng.

4.2. Về chế độ, chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án

Lương, các chế độ phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp công vụ được thực hiện theo đúng quy định.

Về trang phục, triển khai thực hiện các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức may sắm tập trung theo hình thức đấu thầu rộng rãi, bảo đảm đúng quy định.

5. Về Hội thẩm

Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành hướng dẫn về công tác bầu Hội thẩm nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết về Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn Hội thẩm. Công tác bồi dưỡng, tập huấn và chế độ, chính sách cho Hội thẩm nhân dân được bảo đảm.

6. Về việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của các Tòa án nhân dân

6.1. Việc thực hiện chức năng xét xử các loại án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án

Từ ngày 01-10-2015 đến 30-9-2018, các Tòa án đã giải quyết 1.331.018 vụ việc các loại trong tổng số 1.519.908 vụ việc đã thụ lý (đạt tỷ lệ 87,57%). Trung bình mỗi năm, các Tòa án phải giải quyết khoảng 444.000 vụ việc các loại. Số vụ việc mà Tòa án phải giải quyết năm sau tăng mạnh so với năm trước. Chất lượng xét xử tiếp tục được bảo đảm và có những tiến bộ nhất định, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán giảm dần. Việc tranh tụng tại phiên tòa được chú trọng theo hướng thực chất, hiệu quả. Công tác hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại Tòa án được đổi mới, tăng cường.

Thực hiện cải cách tư pháp và nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, Tòa án nhân dân các cấp đã là tốt công tác tổ chức phiên tòa rút kinh nghiệm; công khai bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật với hơn 18.000 phiên tòa rút kinh nghiệm và gần 150.000 bản án, quyết định được công bố.

6.2. Công tác giám đốc việc xét xử của các Tòa án

Ngày 06-9-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 625/QĐ-CA ban hành Quy chế giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị, thông báo đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm tại Tòa án nhân dân. Đến nay, công tác phân loại, thụ lý, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đã có nhiều chuyển biến tích cực; chất lượng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, chất lượng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm ngày càng được nâng cao.

6.3. Công tác xây dựng pháp luật; tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử

Từ năm 2015 đến nay, Tòa án nhân dân tối cao đã chủ trì soạn thảo và trình Quốc hội thông qua 02 dự án Luật, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng 17 dự án Luật, 02 Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; góp ý đối với nhiều dự án Luật, Pháp lệnh khác.

Công tác tổng kết thực tiễn xét xử và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật được đổi mới và tăng cường, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 18 Nghị quyết; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành 07 Thông tư; phối hợp ban hành 20 Thông tư liên tịch; lựa chọn, công bố được 26 án lệ; ban hành 05 tập Giải đáp các vướng mắc trong thực tiễn xét xử.

6.4. Công tác thanh tra, giám sát Thẩm phán, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo

Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi công vụ của cán bộ, công chức Tòa án được thực hiện thường xuyên với 52 Đoàn thanh tra. Hoạt động giám sát đối với Thẩm phán ngày càng được kiện toàn nhằm xây dựng và tăng cường liêm chính tư pháp. Ngày 19-6-2017, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành Quy định xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp (ban hành kèm theo Quyết định số 120/QĐ-CA). Ngày 04-7-2018, thay mặt Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ký ban hành “Bộ Quy tắc về chuẩn mực đạo đức và ứng xử của Thẩm phán”.

Công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân cơ bản được thực hiện theo đúng quy định.

6.5. Công tác hợp tác quốc tế

Ngày 29-11-2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 750/QĐ-TANDTC về Quy chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế của hệ thống Tòa án nhân dân, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Đề án số 480-ĐA/BCS ngày 12-6-2017 định hướn cho công tác đối ngoại của Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021.

Nhìn chung, những kết quả đạt được trong lĩnh vực hợp tác quốc tế không chỉ củng cố hơn nữa mối quan hệ hợp tác của Tòa án Việt Nam với Tòa án các nước, mà còn góp phần tích cực vào việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

6.6. Công tác đào tạo, bồi dưỡng

Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Tòa án nhân dân đến năm 2020 với nhiều hình thức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ. Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Tòa án nhân dân giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025 và Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức Tòa án nhân dân đã được ban hành và tổ chức thực hiện.

6.7. Công tác thi đua, khen thưởng

Lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thi đua - Khen thưởng Tòa án nhân dân đã phát động nhiều phong trào thi đua và tạo điều kiện để các phong trào thi đua phát triển sâu, rộng trong toàn hệ thống; thực hiện việc khen thưởng bảo đảm khách quan, kịp thời, thực chất, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao đang tiếp tục nghiên cứu, đổi mới công tác này trong thời gian tới.

7. Về kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của các Tòa án nhân dân

7.1. Về kinh phí hoạt động

Hàng năm, nguồn kinh phí hành chính, sự nghiệp phục vụ cho các nhiệm vụ thường xuyên của hệ thống Tòa án đã được Chính phủ bố trí cơ bản đầy đủ, kịp thời, tăng hơn định mức của giai đoạn trước.

7.2. Về cơ sở vật chất và phương tiện làm việc

Từ năm 2015 đến nay, Tòa án nhân dân tối cao đã triển khai thực hiện 147 dự án đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho Tòa án nhân dân các cấp, trong đó 53 dự án đã hoàn thành. Đặc biệt, Tòa án nhân dân tối cao đã ưu tiên khởi công xây dựng 35 dự án Tòa án nhân dân cấp huyện chưa có trụ sở làm việc, dự kiến hoàn thành trước năm 2020.

7.3. Về phương tiện làm việc

Tòa án nhân dân tối cao đã triển khai thực hiện Đề án “Trang bị phương tiện làm việc của hệ thống Tòa án nhân dân giai đoạn III (2014-2018)”; trang bị bàn ghế xét xử, tăng âm loa đài theo mô hình mới cho 550 phòng xét xử của Tòa án nhân dân các cấp; trang bị được khoảng 50% xe ô tô chuyên dùng cho Tòa án nhân dân cấp huyện.

7.4. Việc ứng dụng công nghệ, thông tin trong hoạt động của Tòa án

Hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của Tòa án không ngừng được cải tiến, nâng cấp, tiến tới xây dựng Tòa án điện tử.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, VƯỚNG MẮC VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Những hạn chế, vướng mắc

1.1. Những hạn chế vướng mắc trong việc triển khai thi hành Luật

1.1.1. Về tổ chức bộ máy của các Tòa án nhân dân

Tổ chức bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân các cấp còn có những điểm chưa hợp lý; chức năng, nhiệm vụ của một số đơn vị trong bộ máy giúp việc còn chồng chéo.

1.1.2. Về Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác

- Quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Thẩm phán còn có những nội dung cần tiếp tục được cân nhắc, hoàn thiện.

- Việc ban hành Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19-6-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là rất cần thiết; tuy nhiên, có những quy định cần được cân nhắc và nghiên cứu thêm.

1.1.3. Về chế độ, chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án

- Chế độ chính sách, tiền lương đối với Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án còn thấp, chưa tương xứng với công việc, trách nhiệm của Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác.

- Về việc hưởng phụ cấp chức danh tư pháp của các Tòa án quân sự chưa thống nhất với Tòa án nhân dân.

- Chưa có cơ chế hữu hiệu bảo đảm an toàn cho đội ngũ cán bộ, công chức có chức danh tư pháp, nhất là đội ngũ Thẩm phán khi thi hành công vụ.

1.1.4. Về Hội thẩm

Chế độ bồi dưỡng phiên tòa của Hội thẩm còn thấp so với yêu cầu công việc, trách nhiệm của Hội thẩm.

1.1.5. Về biên chế và công tác quản lý các Tòa án nhân dân về tổ chức

- Thực tế, số lượng biên chế của hệ thống Tòa án được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phân bổ từ năm 2012. Đến nay, số lượng vụ việc Tòa án phải giải quyết đã tăng hơn 80% so với thời điểm năm 2012, dẫn đến tình trạng quá tải về công việc tại các Tòa án.

- Việc tổ chức thi tuyển công chức do từng Tòa án nhân dân cấp tỉnh tổ chức bộc lộ một số bất cập, hạn chế.

1.1.6. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng

Nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế, cơ sở vật chất chưa bảo đảm. Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn cán bộ kế cận, nhất là đội ngũ Thư ký, Thẩm tra viên để bổ nhiệm chức danh Thẩm phán còn khó khăn.

1.1.7. Về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động

- Về kinh phí hoạt động:

Một số nội dung chi trước đây được Chính phủ cấp dự toán riêng nay được bố trí trong định mức chung, vì vậy, nhiều nhiệm vụ mới phát sinh không có nguồn để đảm bảo hoạt động.

- Về cơ sở vật chất:

Nhiều Tòa án có quy mô và diện tích nhỏ, trụ sở, phòng xử án đã xuống cấp, hư hỏng, không bảo đảm an toàn; nhiều Tòa án nhân dân cấp huyện gặp khó khăn về phòng xử án, nơi làm việc không đáp ứng quy định mới về phòng xét xử.

- Về trang thiết bị, phương tiện làm việc:

Nhiều máy móc, trang thiết bị làm việc được trang bị trước khi thực hiện Đề án giai đoạn III có cấu hình lạc hậu, không đồng bộ, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ công tác hiện nay. Nhiều Tòa án cấp huyện chưa được trang bị xe ô tô chuyên dùng.

- Về ứng dụng công nghệ, thông tin trong công tác Tòa án:

Nguồn nhân lực chuyên trách về công nghệ, thông tin của các Tòa án địa phương còn thiếu và yếu, chủ yếu là kiêm nhiệm. Hạ tầng công nghệ, thông tin xuống cấp, hoạt động kém ổn định, không đáp ứng được yêu cầu bảo đảm an toàn an ninh mạng trong giai đoạn hiện nay.

1.2. Những hạn chế, vướng mắc của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các văn bản triển khai thi hành

1.2.1. Về tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân

- Việc bỏ chức năng giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp tỉnh theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 tạo áp lực về khối lượng công việc lên các Tòa án nhân dân cấp cao, cần có giải pháp tháo gỡ.

- Có sự không thống nhất giữa Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền xét xử của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương bằng Hội đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán trong lĩnh vực hình sự.

- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 không quy định Tòa án nhân dân tối cao có các cơ quan báo chí và đơn vị sự nghiệp khác, cần được cân nhắc lại để bảo đảm phù hợp với tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII của Đảng.

1.2.2. Về Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác

- Thực tiễn xét xử cho thấy các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đều là những vụ án khó, phức tạp, đòi hỏi những người nghiên cứu, giúp việc cho Hội đồng Thẩm phán phải có trình độ chuyên môn vững vàng, đã có kinh nghiệm xét xử các loại án (là các Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp).

- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 không quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán sơ cấp công tác tại Toà án nhân dân cấp tỉnh.

2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc

Về những hạn chế, vướng mắc nêu trên, bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì có những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ nhận thức và việc triển khai các quy định mới của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 tại một số Tòa án còn chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ; năng lực, kinh nghiệm đội ngũ Thẩm phán, cán bộ quản lý của các Tòa án chưa đồng đều; sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng của Tòa án nhân dân tối cao trong quá trình thực hiện một số nhiệm vụ còn chưa tốt.

III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ   

1. Về tổ chức bộ máy của các Tòa án nhân dân

Từ các hạn chế nêu trên, cần nghiên cứu, đánh giá để sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân các cấp.

2. Về chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án nhân dân

- Đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các loại vụ án, thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng; chú trọng làm tốt công tác hòa giải, đối thoại; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

- Tiếp tục tăng cường công tác xây dựng và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử.

- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong hoạt động công vụ, xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân có sai phạm gắn với trách nhiệm của người đứng đầu.

3. Về Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác

- Tiến hành tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành Quyết định số 120/QĐ-TANDTC ngày 19-6-2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế.

- Sửa đổi hoặc ban hành thông tư thay thế Thông tư liên tịch số 28/2004/TTLT/BQP-TANDTC ngày 04-3-2004 của hướng dẫn về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và điều động đối với các chức vụ quản lý, chức danh chuyên môn nghiệp vụ trong ngành Tòa án quân sự; Thông tư số 92/2011/TT-BQP ngày 04-7-2011 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về tổ chức hoạt động của Hội thẩm quân nhân.

4. Về chế độ, chính sách đối với Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án

Đề nghị sớm thực hiện việc cải cách chế độ chính sách tiền lương của Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án nhân dân cho phù hợp với đặc thù hoạt động chuyên môn và yêu cầu cải cách tiền lương; cân nhắc bố trí nhà công vụ, hỗ trợ kinh phí cho cán bộ luân chuyển, biệt phái.

5. Về biên chế và công tác quản lý cán bộ

- Đề nghị Bộ Chính trị thông qua Đề án vị trí việc làm của Tòa án và quyết định về biên chế của Tòa án nhân dân.

- Tiếp tục tăng cường phân cấp quản lý cán bộ Tòa án địa phương.

6. Về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động

Đề nghị Chính phủ xem xét áp dụng cơ chế ưu tiên, tăng mức phân bổ vốn đầu tư xây dựng hàng năm cho Tòa án nhân dân; bố trí kinh phí để thực hiện việc xây dựng, cải tạo mở rộng trụ sở và trang bị nội thất phòng xử án của Tòa án theo yêu cầu mới của cải cách tư pháp.

7. Về ứng dụng công nghệ, thông tin trong công tác của Tòa án

- Đẩy nhanh tiến độ trình Chính phủ phê duyệt Chiến lược tổng thể về phát triển công nghệ, thông tin của Tòa án và Đề án cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin các loại vụ án.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực chất lượng cao cho việc ứng dụng công nghệ, thông tin trong các hoạt động của Tòa án, hướng đến xây dựng Tòa án điện tử.

8. Về kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật

- Đề nghị Quốc hội cân nhắc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 theo hướng:

+ Tại Tòa án nhân dân tối cao có Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp; tại Tòa án nhân dân cấp cao có Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp.

+ Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bộ máy giúp việc; cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; các cơ quan báo chí và đơn vị sự nghiệp công lập khác;

+ Giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định về một số loại vụ việc của Tòa án nhân dân cấp huyện có hiệu lực pháp luật;

+ Quy định người đang giữ chức vụ Chánh án, Phó Chánh án không được bổ nhiệm lại Thẩm phán thì đương nhiên thôi giữ chức vụ nhằm bảo đảm đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác cán bộ.

- Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

+ Xem xét, thành lập thêm Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Cần Thơ, 01 Vụ Giám đốc kiểm tra về án hành chính thuộc bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao, từ đó sắp xếp lại chức năng, nhiệm vụ giám đốc thẩm các loại án cho phù hợp;

+ Có quy định cụ thể về việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương bằng Hội đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán cho phù hợp giữ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung Quyết định số 41/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với chế độ bồi dưỡng phiên tòa, phiên họp của Hội thẩm nhân dân.

Trên đây là Báo cáo tóm tắt sơ kết 03 năm thi hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các văn bản triển khai thi hành của Tòa án nhân dân tối cao./.

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Lượt xem: 85
ácdscv