Skip to main content

image

image

image


Mục lục

1.  Hướng dẫn xây dựng Tòa án phù hợp cho người chưa thành niên  2

2.  Hiểu biết về sự phát triển của người chưa thành niên  8

3.  Lời khuyên cho kỹ năng đặt câu hỏi đối với người bị hại/ làm chứng chưa thành niên  12

4.  Sự phát triển của thanh thiếu niên và tội phạm vị thành niên  15

5.  Lợi ích tốt nhất của trẻ em  16

Tài liệu tham khảo  20


1.  Hướng dẫn xây dựng Tòa án thân thiện với người chưa thành niên

Người chưa thành niên có thể tham gia vào nhiều hoạt động tố tụng khác nhau với tư cách là bị cáo, người bị hại hay người làm chứng trong các vụ phạm tội, hoặc là đối tượng của các tranh chấp liên quan đến chăm sóc, nuôi dưỡng hay các quyền làm cha mẹ. Tuy nhiên, để tham gia một cách hiệu quả vào thủ tục tố tụng tại tòa án, người chưa thành niên thường phải đối mặt với những khó khăn nhất định bởi sự không tương thích giữa năng lực của họ với môi trường cũng như quy trình thủ tục của tòa án vốn được xây dựng nhắm đến đối tượng là người trưởng thành. Điều này có thể gây trở ngại cho việc tham gia tố tụng và khả năng cung cấp chứng cứ một cách đầy đủ và hiệu quả của người chưa thành niên.

Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra rằng, từ khi còn nhỏ, trẻ em đã có thể bày tỏ quan điểm của mình và tường trình chính xác về những gì xảy ra với chúng. Tuy nhiên, để có được thông tin chính xác từ một người làm chứng chưa thành niên đòi hỏi phải sử dụng những câu hỏi và phương pháp giao tiếp phù hợp với lứa tuổi. Chất lượng cũng như số lượng thông tin mà người chưa thành niên cung cấp cho tòa án sẽ phụ thuộc vào sự hiểu biết của các bên về năng lực của trẻ và kỹ năng khơi gợi thông tin từ trẻ. Ngay cả những đứa trẻ thông minh, sáng dạ cũng cảm thấy phương pháp giao tiếp và ngôn ngữ dùng tại tòa án rất khó, đơn giản bởi vì “các nguyên tắc” giao tiếp tại tòa án khác xa với những gì mà trẻ em thường dùng khi giao tiếp hàng ngày.

Để đảm bảo việc xét xử công bằng cho một bị cáo chưa thành niên, điều cần thiết là người chưa thành niên có thể nhận thức được đầy đủ về các thủ tục tố tụng và tham gia vào các thủ tục đó. Thủ tục tố tụng tại tòa án có thể có tác dụng giáo dục và phục hồi tốt hơn nhiều nếu người chưa thành niên và phụ huynh hay người giám hộ của họ có thể hiểu và tham gia vào tố tụng một cách đầy đủ. Vì lý do nói trên, thủ tục tố tụng của Tòa án cho người chưa thành niên thường được tiến hành một cách ít trang trọng và theo hướng thúc đẩy việc đối thoại hơn. Đó là bởi vì việc tham gia tích cực vào thủ tục tố tụng tại tòa án đã được chứng minh là có thể giúp những người chưa thành niên hiểu và chấp nhận phán quyết cuối cùng được đưa ra và chịu trách nhiệm về hành vi của họ.

Việc đảm bảo rằng tòa án là một môi trường dễ tiếp cận và an toàn đối với người chưa thành niên đòi hỏi phải có sự thay đổi đối với thực tiễn hoạt động mang tính chuẩn mực của tòa án, có xem xét đến các yếu tố dễ bị tổn thương đặc thù của người chưa thành niên và quyền được bảo vệ ở mức cao hơn của họ. Có nhiều phương cách mà tất cả thẩm phán có thể sử dụng để làm cho thủ tục tố tụng tại tòa án trở nên hiệu quả và phù hợp hơn với người chưa thành niên:

Ưu tiên các vụ án liên quan đến người chưa thành niên và giảm thiểu sự chậm trễ

Sự chậm trễ kéo dài trong quá trình tố tụng tại tòa án có thể làm trầm trọng thêm trạng thái căng thẳng của người chưa thành niên và ảnh hưởng xấu đến trí nhớ của trẻ về các sự kiện cũng như khả năng đưa ra chứng cứ tốt của trẻ. Trong các trường hợp liên quan đến quyền nuôi con chưa thành niên, việc chậm trễ có thể làm trầm trọng hơn mâu thuẫn gia đình và phương hại đến phúc lợi của trẻ. Đối với các bị cáo là người chưa thành niên, việc phải xuất hiện tại tòa nhiều lần ảnh hưởng tiêu cực đến việc đi học của trẻ, và thời gian bị tạm giam/ tạm giữ trước phiên tòa có thể dẫn đến việc trẻ bị ảnh hưởng bởi môi trường tội phạm và tăng khả năng tái phạm. Do đó, điều quan trọng là phải giảm thiểu việc chậm trễ trong các vụ án có liên quan đến người chưa thành niên. Thẩm phán nên chủ động trong việc quản lý các vụ án liên quan đến người chưa thành niên nhằm tránh sự chậm trễ không cần thiết.

Phương pháp tốt để giảm thiểu sự chậm trễ

image

Sử dụng việc quản lý án chủ động để đảm bảo xác định và giải quyết sớm các vấn đề của vụ án, qua đó giảm tối đa nhu cầu tranh luận, kiến nghị và xem xét về mặt pháp lý trong quá trình phiên tòa diễn ra.

image

Đặt ra khung thời gian rõ ràng cho tiến trình giải quyết vụ án và đưa ra hướng dẫn phù hợp với các yêu cầu của vụ án.

image

Ưu tiên các vụ án liên quan đến người chưa thành niên khi lên lịch xét xử.

image

Cân nhắc kỹ mọi yêu cầu hoãn giải quyết vụ việc để tránh tác động bất lợi đối với quyền lợi và khả năng cung cấp chứng cứ của người chưa thành niên.

image

Giới hạn thời hạn hoãn giải quyết vụ việc ngắn nhất có thể.

image

Lên lịch cho người chưa thành niên tham gia phiên tòa một cách cụ thể, tránh để trẻ phải chờ đợi lâu tại tòa án khiến cho trẻ có thể cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi hơn cũng như có thể ảnh hưởng không tốt tới khả năng đưa ra chứng cứ tối ưu của họ.

Xử kín

Khi tham gia tố tụng tại tòa án, điều khiến cho người bị hại hay người làm chứng chưa thành niên luôn cảm thấy khó khăn nhất chính là việc phải đưa ra lời khai tại một phiên tòa công khai. Việc không cho công chúng tham gia phiên tòa giúp giảm bớt sự lo lắng và căng thẳng của người chưa thành niên, bảo vệ sự riêng tư của trẻ đồng thời cũng loại bỏ nguy cơ trẻ bị phân tán, mất tập trung trong quá trình cung cấp chứng cứ. Đối với các bị cáo chưa thành niên, việc bảo vệ sự riêng tư của trẻ là vô cùng quan trọng nhằm ngăn ngừa việc trẻ bị kỳ thị.

Thay đổi cách bố trí phòng xử án

Người chưa thành niên giao tiếp tốt nhất khi họ không cảm thấy bị đe dọa hoặc lo lắng, và khi họ được ở trong một môi trường thoải mái. Những điều chỉnh đơn giản đối với cách bố trí phòng xử án có thể giúp làm cho trẻ cảm thấy thoải mái và tăng cường chất lượng chứng cứ mà họ đưa ra.

Phương pháp tốt để thay đổi cách bố trí phòng xử án

image

Nếu thuận tiện, cần có một nơi yên tĩnh và riêng tư cho người chưa thành niên và phụ huynh của họ ngồi trong khi chờ đợi.

image

Mặc trang phục đơn giản hơn thay vì mặc đồng phục của Tòa án.

image

Bố trí lại chỗ ngồi sao cho tất cả các bên đều ngang hàng nhau, ví dụ như để tất cả ngồi quanh bàn luật sư.

image

Cho phép phụ huynh, người đại diện theo pháp luật và/ hoặc luật sư ngồi cạnh trẻ chưa thành niên.

image

Không buộc người chưa thành niên phải đứng trước vành móng ngựa và đề nghị không đưa họ ra tòa trong tình trạng bị còng tay hoặc bị cưỡng chế.

image

Thu hẹp khoảng cách giữa người chưa thành niên và những người cần nghe trẻ nói (hội đồng xét xử, kiểm sát viên, luật sư bào chữa .v.v...). Người chưa thành niên gặp khó khăn trong việc diễn đạt bằng giọng nói và việc phải lặp đi lặp lại những gì chính mình vừa nói hay liên tục bị yêu cầu nói to có thể bị căng thẳng.

image

Đối với người bị hại/ làm chứng chưa thành niên, phải đảm bảo rằng trẻ không bị xếp ngồi gần bị cáo và không phải nhìn thấy bị cáo.

image

Cho phép trẻ ngồi thay vì đứng khi họ nói hoặc cung cấp chứng cứ trước tòa.

Sử dụng các biện pháp đặc biệt và phương tiện hỗ trợ lấy lời khai

Hiện nay, tòa án nhiều nước sử dụng các biện pháp đặc biệt khi lấy lời khai của người bị hại hoặc người làm chứng chưa thành niên nhằm giảm bớt cảm giác căng thẳng khi phải đưa ra lời khai tại một phiên tòa công khai và phải giáp mặt với bị cáo. Trong khi một số biện pháp nói trên đòi hỏi phải trang bị các thiết bị kỹ thuật đặc biệt (ví dụ như sử dụng lời khai được ghi âm-ghi hình trước bằng video, cho phép trẻ đưa ra lời khai thông qua phương tiện kết nối trực tuyến audio-video được bảo mật), một số biện pháp khác lại khá đơn giản, có chi phí thấp mà tất cả các tòa án đều có thể áp dụng (như sử dụng màn hoặc rèm để che khuất bị cáo khỏi tầm nhìn của trẻ). Trong một số trường hợp, việc sử dụng bản vẽ, sơ đồ cơ thể hoặc các phương tiện hỗ trợ khác có thể hữu ích để giúp trẻ cung cấp chứng cứ. Ví dụ, thông thường không nên yêu cầu các người bị hại chưa thành niên chỉ vào các bộ phận cơ thể mình khi mô tả một hành vi tội phạm tình dục. Việc sử dụng bản vẽ cơ thể (bản vẽ phác thảo của cơ thể) là biện pháp đơn giản với chi phí thấp, cho phép trẻ chỉ ra nơi bị động chạm mà không bị căng thẳng khi phải chỉ vào các bộ phận nhạy cảm trên cơ thể mình giữa chỗ đông người.

Các biện pháp đặc biệt và phương tiện hỗ trợ lấy lời khai

image

Hạn chế đến mức thấp nhất yêu cầu người chưa thành niên phải khai trước tòa án bằng cách sử dụng lời khai của trẻ được thu âm, thu hình làm bằng chứng.

image

Nếu thuận tiện, cho phép trẻ cung cấp lời khai từ bên ngoài phòng xét xử thông qua phương tiện trực tuyến.

image

Nếu người chưa thành niên phải trực tiếp khai tại tòa án, sử dụng màn hoặc rèm để che khuất bị cáo khỏi tầm nhìn của trẻ.

image

Sử dụng bản vẽ cơ thể hoặc các phương tiện hỗ trợ khác để người chưa thành niên không phải chỉ vào các bộ phận cơ thể của mình khi mô tả các hành vi phạm tội tình dục.

Gây dựng quan hệ

Người chưa thành niên sẽ cảm thấy tự tin và thoải mái hơn khi đưa ra chứng cứ tại tòa án nếu thẩm phán thực hiện các bước gây dựng quan hệ để các em cảm thấy dễ chịu. Việc gây dựng quan hệ được thực hiện bằng cách khiến cho trẻ nói chuyện về một chủ đề trung lập không liên quan đến lý do trẻ phải có mặt ở tòa án. Ví dụ, có thể hỏi trẻ về một chủ đề hoặc sự kiện trong quá khứ mà trẻ thích (sinh nhật gần đây, một kỳ nghỉ, hoặc trò chơi hay môn thể thao yêu thích của trẻ). Tốt nhất là sử dụng các câu hỏi mở, điều đó sẽ khiến trẻ có thể tham gia nói chuyện thay vì chỉ đưa ra những câu trả lời có hoặc không.

Ví dụ về việc gây dựng quan hệ

- Cô/chú là Thẩm phán…. và cô/chú phụ trách ở đây hôm nay.

- Em có thấy thoải mái khi ngồi trên chiếc ghế đó không? Em có cần uống nước không?

- Trong phòng xử án cùng với chúng ta còn có một số người khác. Có lẽ em đã từng gặp một trong số họ - Cô/chú ............. là kiểm sát viên.

- Lát nữa, một luật sư khác sẽ hỏi em một vài câu hỏi, đó là Cô/chú..................

- [Em….(tên của trẻ)], em có mặt ở tòa hôm nay để kể về những gì xảy ra đối với em/hãy kể những gì em biết về [tên bị cáo]

- Đầu tiên, Cô/chú muốn hỏi một số câu. Sau đó, Cô/chú muốn nói chuyện với em về một số quy tắc tại tòa án ở đây.

- Em bao nhiêu tuổi? Sinh nhật của em là ngày bao nhiêu?

- Em có anh chị em nào không? Hãy kể cho tôi nghe về họ. Họ năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

- Em đang học lớp mấy?

- Ở trường em thích học môn gì? Nói cho tôi nghe về môn đó.

- Kể cho tôi nghe xem em làm gì vào giờ ra chơi và giờ ăn trưa nào?

- Em có chơi môn thể thao nào không? Kể cho tôi nghe nào.

- Ngoài giờ học trên trường em thích làm gì?

- Em có con thú cưng nào không? Kể tôi nghe xem nào.

Giải thích về thủ tục tố tụng và những điều mong đợi ở trẻ

Việc không hiểu những gì đang xảy ra và những gì mà người lớn mong đợi ở mình có thể khiến người chưa thành niên căng thẳng và làm tăng cảm giác bất an của trẻ trong phòng xử án. Kinh nghiệm là tại thời điểm bắt đầu thủ tục tố tụng phải giải thích những gì mà (tòa án) mong đợi ở trẻ bằng ngôn ngữ đơn giản dễ hiểu. Ví dụ, đối với người làm chứng chưa thành niên, nên nói cho họ biết rằng điều quan trọng là họ phải chú ý lắng nghe câu hỏi và phải trả lời trung thực, rằng nếu gặp câu hỏi khó họ hoàn toàn có thể trả lời là họ không hiểu, và rằng nếu họ muốn nghỉ thì họ có thể yêu cầu giải lao bất kỳ lúc nào. Đối với bị cáo chưa thành niên, các thẩm phán cần đảm bảo rằng trẻ luôn được giải thích bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu mà không sử dụng những thuật ngữ pháp lý chuyên ngành, để họ hiểu rõ về hành vi phạm tội mà họ bị cáo buộc và để họ tuân thủ các thủ tục tố tụng cũng như hiểu được các phán quyết hay quyết định mà tòa án đưa ra.

Phương pháp tốt để đảm bảo người chưa thành niên hiểu thủ tục tố tụng

image

Bắt đầu buổi làm việc bằng cách tự giới thiệu về bản thân và các bên có mặt trong phòng xét xử.

image

Giải thích cho người chưa thành niên, bằng những thuật ngữ đơn giản, dễ hiểu về lý do tại sao họ phải có mặt tại tòa án.

image

Đối với bị cáo là người chưa thành niên, giải thích đơn giản, dễ hiểu về những gì mà trẻ bị cáo buộc đã thực hiện và kiểm tra lại để đảm bảo rằng trẻ đã hiểu rõ, ví dụ, “Tân, em bị cáo buộc đã ăn cắp một chiếc ô tô của ông Nguyễn vào ngày thứ 7, mồng 5 tháng 5. Em có hiểu không?”

image

Khi bắt đầu phiên tòa liên quan tới một bị cáo là người chưa thành niên, phải giải thích về các thủ tục cần tuân thủ, bao gồm cả thứ tự chứng cứ và việc cung cấp chứng cứ.

image

Tránh sử dụng từ ngữ pháp lý chuyên ngành càng nhiều càng tốt, và nếu cần sử dụng các thuật ngữ pháp lý, phải giải thích khi nhắc đến những thuật ngữ này.

image

Nói với trẻ rằng họ có thể hỏi nếu họ không chắc chắn hoặc cảm thấy mơ hồ.

image

Đặt câu họi gợi mở chi tiết/ giúp trẻ truyền đạt được quan điểm của mình.

image

Khi kết thúc vụ xử, giải thích phán quyết của tòa án, lý do đưa ra phán quyết như vậy và bất kỳ lệnh/quyết định nào được đưa ra bằng ngôn ngữ đơn giản để người chưa thành niên có thể hiểu được.

Giao tiếp và đặt câu hỏi phù hợp với người chưa thành niên

Các thẩm phán đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sắc thái của phòng xử án và làm mẫu trong việc dùng phương thức tương tác phù hợp với người chưa thành niên, thể hiện sự tôn trọng và cho phép người chưa thành niên tham gia tố tụng một cách đầy đủ và công bằng. Điều này đòi hỏi phải có điều chỉnh đối với phương thức giao tiếp cũng như đặt câu hỏi theo cách thông dụng.

Phương pháp tốt cho việc giao tiếp thân thiện với người chưa thành niên

image

Luôn luôn nói chuyện với trẻ một cách bình tĩnh và thông cảm.

image

Chủ động lắng nghe và khuyến khích sử dụng ngôn ngữ cơ thể, thường xuyên giao tiếp bằng mắt. Âm điệu giọng nói và cử chỉ của thẩm phán cần thể hiện rằng họ đang lắng nghe những gì trẻ nói, và rằng họ đang rất tập trung. Những người làm chứng chưa thành niên có thể rút lại hoặc ngừng nói nếu họ cảm thấy người đặt câu hỏi không tập trung hoặc không lắng nghe mình (ví dụ như nhìn vào tài liệu), hay do người hỏi sử dụng giọng điệu gay gắt hoặc có tính phán xét, hoặc do họ bị ngắt lời.

image

Duy trì một thái độ và giọng điệu trung lập, tránh cử chỉ và nét mặt có thể biểu thị sự khó chịu, nghi ngờ, thất vọng hoặc thiếu kiên nhẫn.

image

Kiên nhẫn và cho người chưa thành niên thời gian để tự trình bày. Người chưa thành niên có tốc độ nói khác nhau, và nhịp độ đặt câu hỏi cũng cần được điều chỉnh đề phù hợp với từng trẻ. Thẩm phán phải kiên nhẫn nếu trẻ trả lời chậm, đồng thời phải cho trẻ thời gian để suy nghĩ. Tránh ngắt lời trẻ, vì điều này có thể phá vỡ dòng suy nghĩ của trẻ và kiềm chế trẻ nói ra.

image

Gọi người chưa thành niên bằng tên: sử dụng tên ưa thích của trẻ có thể giúp trẻ tập trung. Gọi trẻ bằng tên, không dùng các từ như “bị cáo” hay “người chưa thành niên”.

image

Với bị cáo chưa thành niên, hãy cương quyết nhưng không hà khắc. Trái với suy nghĩ của nhiều người, việc “hà khắc” với người chưa thành niên và nói với họ bằng giọng điệu giận giữ hoặc chê trách không mang lại hiệu quả vì nó ngăn cản sự tham gia của trẻ và ảnh hưởng đến nhận thức của họ về sự công bằng của phiên tòa.

image

Nghỉ giải lao thường xuyên. Người chưa thành niên có thời gian tập trung tương đối ngắn và có thể bị phân tâm nếu phần lời khai của họ tại tòa án kéo dài quá lâu. Thông thường, trẻ nhỏ (dưới 10 tuổi) có thể tập trung được không quá 15 đến 30 phút, và những đứa trẻ lớn hơn có thể tập trung từ 30 đến 60 phút. Khoảng thời gian tập trung tại phiên tòa có thể bị ảnh hưởng bởi việc phải chờ đợi lâu tại tòa án, hoặc các bệnh lý như chứng Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Phần lớn trẻ sẽ biểu hiện sự giảm tập trung của mình thông qua việc vặn vẹo, thể hiện dấu hiệu chán chường, rơi vào im lặng hoặc trả lời liên hồi bằng câu ‘tôi không biết’ hoặc ‘tôi không nhớ’.

image

Đưa ra các câu hỏi phù hợp với độ tuổi và mức độ phát triển của người chưa thành niên. Thẩm phán phải cảm thông với kĩ năng sử dụng ngôn ngữ và mức độ phát triển của trẻ đồng thời phải bảo đảm rằng tất cả các câu hỏi đặt ra phải được điều chỉnh cho phù hợp (tham khảo phần dưới để thảo luận thêm).


2.  Hiểu biết về sự phát triển của người chưa thành niên

Sự công bằng và liêm chính trong thủ tục tố tụng tại tòa án đòi hỏi tất cả các bên và người làm chứng, bất kể độ tuổi nào, đều hiểu được những gì đang diễn ra và ý nghĩa của bất kỳ câu hỏi nào được đặt ra với họ. Theo đó, ngôn ngữ tòa án và kiểu câu hỏi được sử dụng phải phù hợp với độ tuổi phát triển và mức độ nhận thức của người chưa thành niên. Hiểu được sự phát triển của trẻ, và tiến trình mà người chưa thành niên phát triển các kỹ năng về nhận thức, ngôn ngữ và ý niệm về đạo đức sẽ giúp thẩm phán điều chỉnh cách tiếp cận của mình cho phù hợp với cá nhân từng em.

Sự phát triển của người chưa thành niên thường được chia thành 05 giai đoạn:

image

Ở mỗi giai đoạn nói trên, phần lớn người chưa thành niên có xu hướng thể hiện các đặc điểm riêng và mức độ phát triển thể chất, cảm xúc, đạo đức và nhận thức.1 Tuy nhiên, điều quan trọng phải nhớ là các đặc điểm này chỉ là khái quát hóa, và các đặc điểm mô tả dưới đây chỉ được xem là hướng dẫn chung nhằm giúp thẩm phán hiểu hơn về cách thức giao tiếp hiệu quả với trẻ em ở các lứa tuổi khác nhau. Mỗi cá nhân người có thể phát triển với tốc độ khác nhau, và cán bộ tòa án có thể cần tham vấn ý kiến của chuyên gia về năng lực của một đứa trẻ cụ thể.

Giai đoạn 1 Lọt lòng và chập chững: từ lúc sinh ra đến 3 tuổi

Ba năm đầu đời của trẻ em đặt nền móng cho tất cả những điều tiếp theo. Nhìn chung, trẻ ở giai đoạn lọt lòng và chập chững thường:

 Phụ thuộc vào người khác về mặt thể chất và cho những nhu cầu cơ bản của trẻ;

 Chưa thể truyền đạt cảm xúc và suy nghĩ bằng lời nói;

 Hạn chế về khả năng phân biệt đúng sai, và nói thật hay nói dối.

Giai đoan 2 Đầu niên thiếu: từ 3 đến 5 tuổi

Trong giai đoạn này, sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ em tiến triển nhanh chóng. Về thể chất, trẻ cũng trở nên độc lập hơn với cha mẹ, bắt đầu mở rộng các mối liên hệ ngoài gia đình và bắt đầu học các hành vi xã hội phù hợp. Nói chung, trẻ từ 3 đến 5 tuổi thường:

 Hiểu các từ chỉ có 01 hoặc 02 âm tiết, nhưng thường có thể trả lời bằng các câu ngắn đầy đủ;

 Gặp khó khăn trong việc hiểu và sử dụng đại từ một cách chính xác (anh ấy, cô ấy, chúng ta, .v.v..);

 Có khả năng nhớ lại một sự kiện một cách chính xác, nhưng nhớ ít chi tiết hơn trẻ lớn hoặc người lớn;

 Thường có thể cung cấp thông tin về hành động trọng tâm đã xảy ra, nhưng không thể mô tả một sự kiện theo trình tự và có thể không thấy được các chi tiết quan trọng mà người lớn coi là quan trọng;

 Không có hoặc hạn chế hiểu biết về các khái niệm trừu tượng như thời gian, chiều cao, cân nặng, khoảng cách, v.v…;

 Trí nhớ có thể phai nhanh hơn so với trẻ lớn và người lớn do sự khác biệt trong cách mã hóa ký ức;

 Thường không biết rằng chúng không hiểu được điều gì đó;

 Tập trung vào hiện tại và không thể suy nghĩ về hậu quả của hành động của chúng hay hành động của chúng có thể ảnh hưởng đến người khác như thế nào;

 Ý niệm về đạo đức dựa trên lợi ích cá nhân. Trẻ em đánh giá hành động của mình đúng hay sai dựa trên hệ quả của hành động của chúng, chẳng hạn như trẻ được khen thưởng hoặc bị trừng phạt.

Giai đoạn 3 Giữa niên thiếu: từ 6 đến 9 tuổi

Vào giữa thời niên thiếu, trí nhớ và kỹ năng ngôn ngữ của trẻ tiếp tục tăng lên. Đến khoảng tám tuổi, trẻ bắt đầu phát triển khả năng kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc và hành vi, và bắt đầu sử dụng lập luận phức tạp hơn trong suy nghĩ về các quy tắc và mong muốn. Trẻ em trong độ tuổi này nói chung thường:

 Đã phát triển đủ khả năng ngôn ngữ để tham gia vào việc giao tiếp hàng ngày, nhưng sẽ gặp khó khăn với những câu hỏi phức tạp và những từ dài;

 Có thể tường thuật khá mạch lạc về một sự kiện mà bản thân đã trải nghiệm. Tuy nhiên, trẻ gặp khó khăn trong việc ước tính số lần sự kiện xảy ra hoặc thời lượng của một sự kiện vì chúng chưa biết được giây, phút hay giờ là bao lâu;

 Gặp khó khăn trong việc hiểu các câu hỏi về nhiều thứ cùng một lúc, với các câu hỏi đuôi (“Cô ấy muốn cháu đi cùng cô ấy, phải không?”), và với những câu hỏi dạng phủ định (“Cháu không cảm thấy tức giận với anh ấy đúng không?”);

 Sử dụng và giải thích ngôn ngữ theo nghĩa đen. Ví dụ, một đứa trẻ có thể hiểu từ ‘chạm vào’ chỉ như một điều gì đó liên quan đến tay và không phải là sự tiếp xúc cơ thể khác;

 Không có khả năng suy nghĩ trừu tượng cần thiết cho việc hiểu các câu hỏi giả định (ví dụ, “giả sử tôi nói với cháu rằng anh ta không đủ cao để đứng dưới đất mà chạm lên được cửa sổ thì cháu nghĩ sao?”);

 Hiểu một cách hạn chế về các khái niệm trừu tượng như quãng thời gian đã trôi qua, chiều cao, cân nặng, khoảng cách, v.v. và có thể gặp khó khăn khi tường trình các sự kiện theo thứ tự thời gian;

 Gặp khó khăn với những câu hỏi buộc chúng đưa ra quan điểm của người khác hoặc đưa ra những suy luận về ý định của người khác. Trẻ có xu hướng trả lời bằng cách đơn giản là áp đặt cảm nghĩ của chúng lên người khác;

 Bắt đầu nghĩ đến các hệ quả lâu dài cũng như trước mắt khi đánh giá một hành động là đúng hay sai. Nhưng sự hiểu biết của trẻ về ‘sai và đúng’ vẫn đang ở thời kỳ phát triển.

Giai đoạn 4 Cuối niên thiếu hoặc “trước giai đoạn sắp thành niên”: từ 10 đến 12 tuổi

Cuối niên thiếu là giai đoạn chuyển tiếp với đặc trưng bởi những thay đổi đáng kể về thể chất, xã hội, cảm xúc và trí tuệ. Trẻ ở giai đoạn cuối niên thiếu thường:

 Có thể đưa ra thông tin chi tiết về một sự kiện và bày tỏ cảm xúc và suy nghĩ của chúng;

 Vẫn thiếu vốn tính từ mô tả, điều đó khiến trẻ gặp khó khăn trong việc kể chi tiết về một sự kiện;

 Có một số khả năng nhận biết về thời gian, ước tính cân nặng, chiều cao và khoảng cách, v.v., nhưng không phải luôn chính xác;

 Đang phát triển khả năng đối phó với câu hỏi giả định, nhưng đôi khi vẫn bị nhầm lẫn;

 Đang phát triển khả năng tư duy trừu tượng - có khả năng suy nghĩ “nếu… thì…?”, có thể phân biệt quan điểm của mình với người khác và cũng có thể suy đoán về những gì người khác nghĩ;

 Ý niệm về đạo đức dựa trên việc họ sẽ bị người khác đánh giá thế nào khi hành xử theo một cách nhất định.

Giai đoạn 5 Sắp thành niên: từ 13 đến 18 tuổi

Thời ký sắp thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con sang người trưởng thành, kéo dài từ tuổi 13 đến khoảng 18 hoặc 21 tuổi. Nó được đặc trưng bởi những thay đổi mạnh mẽ trong tất cả các khía cạnh của sự phát triển (sẽ đề cập chi tiết hơn trong phần sau). Tuy nhiên, người sắp thành niên thường có kỹ năng giao tiếp phát triển tốt hơn so với trẻ nhỏ:

 Hầu hết đều có thể thuật lại chi tiết về một sự kiện;

 Hiểu các câu nói phức tạp hơn, nhưng vẫn có thể bị nhầm lẫn bởi các câu hỏi phức hoặc phủ định;

 Nhìn chung có thể hiểu các câu hỏi giả định, nhưng đôi khi vẫn có thể bị nhầm lẫn;

 Có thể ước lượng thời gian, mô tả thời gian và đưa ra các phép đo tương đối chính xác;

 Có thể xấu hổ khi thừa nhận rằng họ không hiểu một câu hỏi và do đó ngần ngại không muốn đề nghị được giải thích rõ;

 Bắt đầu phát triển năng lực lý giải và lên kế hoạch “giống như người trưởng thành”, nhưng họ không sử dụng lý giải giống như người lớn một cách nhất quán và không phải lúc nào cũng có thể thấy trước được hệ quả của hành động của mình;

 Có thể bắt đầu có những lý giải về đạo đức ở mức độ cao hơn, chẳng hạn chuyển từ suy nghĩ về sự chấp nhận của xã hội sang suy nghĩ theo các nguyên tắc như công lý và công bằng (nhiều người trưởng thành không bao giờ đạt đến giai đoạn phát triển đạo đức này).

Điều quan trọng phải nhớ là việc phân chia lứa tuổi chỉ là khái quát hóa, và mỗi cá thể trẻ em có thể phát triển với tốc độ rất khác nhau. Có sự khác biệt đáng kể về tốc độ phát triển (thay đổi diễn ra nhanh như thế nào) và hình thái phát triển (thay đổi theo thứ tự như thế nào).

Trẻ cũng có tốc độ phát triển khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau – sự phát triển về nhận thức, xã hội, đạo đức và thể chất – và có thể trưởng thành trong một số lĩnh vực trước những lĩnh vực khác. Ví dụ, một đứa trẻ có thể phát triển về mặt thể chất từ rất sớm và có vẻ như đã đạt đến mức trưởng thành, nhưng sự phát triển về nhận thức hoặc đạo đức của nó có thể diễn ra chậm hơn.

Sự phát triển của trẻ cũng bị tác động và ảnh hưởng lớn bởi các yếu tố bên ngoài như đời sống và hoàn cảnh gia đình, và khả năng hiểu biết cũng như giao tiếp của trẻ có thể khác nhau đáng kể, ngay cả giữa những đứa trẻ cùng tuổi, tùy thuộc vào gia cảnh và trải nghiệm của chúng. Sự phát triển về cảm xúc và đạo đức ở một số người chưa thành niên có thể ở mức thấp do thiếu ảnh hưởng tích cực từ chính cuộc sống của chúng, chẳng hạn như từ cha mẹ hoặc các thành viên gia đình. Người ta đã chứng minh rằng việc lạm dụng và bỏ bê có thể hạn chế sự phát triển của trẻ và có tác động lâu dài đến hành vi của trẻ. Bên cạnh đó, một số dạng khiếm khuyết cũng như bệnh tật – bao gồm cả khiếm khuyết về giáo dục, khiếm khuyết về nhận thức/phát triển, bệnh lý về tâm thần hay việc lạm dụng rượu hoặc ma túy – cũng có thể tác động đến sự phát triển, khả năng ra quyết định và hành vi của người chưa thành niên.


3.  Lời khuyên cho kỹ năng đặt câu hỏi đối với người bị hại/làm chứng chưa thành niên

image

Bắt đầu bằng việc gây dựng quan hệ và làm cho người chưa thành niên cảm thấy thoải mái thông qua các câu hỏi về mối quan tâm, sở thích hoặc về kỳ nghỉ gần đây của trẻ. Sử dụng câu hỏi mở để trẻ không thể chỉ trả lời bằng “có” hoặc “không”.

image

Đặt ra những câu hỏi ngắn, sử dụng câu đơn giản và mỗi câu chỉ truyền đạt một ý chính.

image

Một quy tắc theo kinh nghiệm đó là khớp số từ trong một câu hỏi với số tuổi của đứa trẻ (nghĩa là một đứa trẻ sáu tuổi sẽ hiểu được một câu hỏi chứa không quá sáu từ trong đó).

image

Tránh các câu hỏi sử dụng nhiều cụm từ bổ nghĩa không cần thiết trước khi đi vào phần trọng tâm của câu hỏi (ví dụ, “tôi gợi ý cho em”, “trong chừng mực mà em biết”, “tôi đề nghị với em rằng”, “em có nhớ được nếu…”). Hãy dùng những câu ngắn, đơn giản, sử dụng cấu trúc câu đơn.

image

Sử dụng các từ và cụm từ phổ biến, và tránh các từ vựng phức tạp, các thuật ngữ pháp lý chuyên ngành cũng như những cụm từ không cần thiết khiến câu của bạn trở nên dài dòng.

image

Nói chậm và cho trẻ đủ thời gian để xử lý câu hỏi. Cho phép trẻ trả lời đầy đủ mà không ngắt lời. Hãy kiên nhẫn và đừng đưa ra thêm câu hỏi để lấp vào khoảng ngừng lại giữa phần trả lời của trẻ.

image

Nếu sử dụng phiên dịch, phải đảm bảo rằng người đó dịch nguyên văn những gì mà trẻ nói. Những sự hiểu nhầm làm giảm giá trị lời khai của trẻ thường xảy ra do người lớn áp đặt suy nghĩ của mình lên những lời trẻ nói.

image

Hãy nhớ rằng trẻ em có thể hiểu theo nghĩa đen đối với những gì chúng được hỏi. Ví dụ, trẻ nhỏ thường liên hệ từ “chạm” với thứ gì đó được thực hiện bằng tay, do đó không dùng từ này với những dạng tiếp xúc cơ thể khác.

image

Chỉ dẫn việc thay đổi chủ đề và đưa ra bối cảnh cho chủ đề mới, ví dụ như “Chúng ta vừa kết thúc phần nói chuyện về những gì xảy ra lúc em ở trường. Bây giờ tôi muốn nói về những gì xảy ra vào ngày hôm sau….”

image

Hãy chú ý đến những hạn chế của trẻ. Trẻ nhỏ không sắp xếp các sự kiện trong đầu như cách người lớn làm, và thường không thể mô tả chi tiết một sự kiện, hay giải thích về thứ tự mọi việc xảy ra. Khi kể về một sự kiện trong quá khứ, trẻ có thể bỏ qua trật tự sắp xếp, việc mô tả và thứ tự về thời gian của sự kiện đó.

image

Tránh các câu hỏi có chứa cấu trúc phủ định, vì trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn để hiểu được câu hỏi, ví dụ: “Đó không phải là lời nói dối chứ?”. Ngay cả những người chưa thành niên lớn tuổi cũng gặp khó khăn với các câu hỏi phủ định kép và phức tạp, ví dụ như “Có phải em đã được gợi ý là khi bị hiếp dâm em đã không nói không?” hay “Tôi đưa ra gợi ý với em rằng anh ta không bao giờ bảo em đừng nói gì với bất kỳ ai”.

image

Hãy thận trọng khi đặt các câu hỏi mà yêu cầu trẻ phải ước lượng về giờ giấc, khoảng thời gian, chiều cao, cân nặng, khoảng cách.v.v... khi trẻ chưa đủ phát triển để có thể hiểu đúng về các khái niệm này. Trẻ thường bắt đầu sử dụng các từ ngữ liên quan đến thời gian (như hiện giờ, trước khi), khoảng cách, kích cỡ, định vị.v.v... trước khi chúng thực sự hiểu ý nghĩa của các từ này.

image

Hỏi trẻ nhỏ về thời gian mà một sự kiện xảy ra là không nên, vì câu trả lời sẽ không chính xác. Tốt hơn là nên yêu cầu trẻ liên hệ giữa thời gian một sự kiện xảy ra với “các mốc thời gian” khác trong ngày (thời điểm ăn sáng, ăn trưa, thời điểm tan học, trước khi đi ngủ.v.v...) hoặc những sự kiện cụ thể như dịp nghỉ lễ hoặc sinh nhật.

image

Hãy thận trọng khi hỏi trẻ nhỏ rằng việc gì đó đã xảy ra bao nhiêu lần. Trẻ con từ bảy hoặc tám tuối trở xuống có thể thấy câu hỏi này thực sự khó, và chúng có thể đưa ra những câu trả lời khác nhau mỗi khi được hỏi lại chính câu hỏi đó. Những kiểu trả lời khó tin, ví dụ như “Nó đã xảy ra 1000 lần” có thể là ẩn dụ cho “rất nhiều lần” hoặc chỉ đơn giản là suy nghĩ rằng một câu hỏi về các con số phải được trả lời bằng một câu trả lời có những con số. Lựa chọn tốt hơn là nên hỏi “Có phải [sự kiện] X xảy ra một lần hay không? Hay nhiều hơn một lần?”

image

Tránh sử dụng các câu hỏi đuôi. Các câu hỏi đuôi đưa ra một tuyên bố sau đó thêm vào một câu hỏi ngắn để yêu cầu xác nhận, ví dụ như “Chiếc xe này màu đỏ, có đúng không?” Những câu hỏi đuôi rất phức tạp về mặt ngôn ngữ đối với người chưa thành niên, và cũng đòi hỏi trẻ phản bác lại gợi ý của người đặt câu hỏi. Câu hỏi đuôi kết hợp giữa thể phủ định và thể khẳng định (“Hiền đã không sờ vào em, có phải không?”), điều này tăng thêm tính phức tạp của câu hỏi.

image

Các câu hỏi phức (hỏi về nhiều thứ cùng lúc) có thể gây nhầm lẫn cho trẻ kể cả với những người sắp thành niên và không nên được sử dụng. Ví dụ, “Bạn nói với cảnh sát là bạn bị đá vào đầu gối, và bạn có một vết bầm, bạn có nhớ điều đó chứ?”

image

Hạn chế sử dụng đại từ, trạng từ và giới từ. Người chưa thành niên, đặc biệt là trẻ dưới 10 tuổi, gặp khó khăn trong việc hiểu chính xác các từ như anh ta/ chúng ta/ họ/ điều đó/ nó/ chỗ đó là để chỉ người nào hoặc vật nào. Điều quan trọng là hãy sử dụng tên và xác định rõ các đối tượng, hành động và địa điểm. Ví dụ như: “Tan đập vỡ cửa sổ khi nào?” thay vì đặt câu hỏi kiểu “Anh ta làm điều đó lúc nào?”.

image

Tránh hỏi đi hỏi lại một câu hỏi: người chưa thành niên có xu hướng nghĩ rằng nếu một câu hỏi được lặp lại thì chắc là vì câu trả lời ban đầu của trẻ không chính xác. Tâm trạng lo lắng kết hợp với mong muốn làm hài lòng ai đó ở vị trí quyền lực có thể khiến ngay cả những người sắp thành niên lớn tuổi thay đổi câu trả lời đầu tiên của chúng, bất kể độ chính xác của câu trả lời đó. Nếu một câu hỏi cần được lặp lại để làm rõ hơn, hãy giải thích rằng bạn muốn kiểm tra độ hiểu của bạn đối với những gì trẻ vừa nói. Ví dụ: “Cảm ơn em, nhưng tôi muốn thực sự chắc chắn rằng tôi đã hiểu vấn đề. Hãy nói lại cho tôi nghe một lần nữa (tiếp theo là câu hỏi);

image

Đừng bao giờ yêu cầu trẻ chỉ ra vị trí đụng chạm nhạy cảm trên chính cơ thể của trẻ, vì chúng có thể thấy điều này là rất xấu hổ và khó chịu. Nên chuẩn bị sẵn một bản vẽ để trẻ có thể đánh dấu các vị trí trên bản vẽ đó.


4.  Quá trình phát triển và các hành vi lêch chuẩn của người sắp thành niên

Sắp thành niên là quãng thời gian có nhiều thay đổi khi người chưa thành niên trải qua sự phát triển đáng kể về cả thể chất, nhận thức, xã hội và đạo đức. Hiểu được hành vi của người sắp thành niên trong giai đoạn phát triển này sẽ giúp thẩm phán có đánh giá đúng đắn hơn khi xem xét hành vi vi phạm của trẻ. Các nghiên cứu quốc tế đã xác định được một số đặc điểm chính của người sắp thành niên trong giai đoạn phát triển này.

Các đặc điểm chính của lứa tuổi sắp thành niên

 Người sắp thành niên đang phải đối phó với những thay đổi nội tiết tố quan trọng và cảm xúc của họ có thể không được ổn định. Biến động đột ngột về hóc-môn và cảm xúc góp phần vào việc gây ra hành vi bốc đồng.

 Sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro rất phổ biến ở thanh thiếu niên, đặc biệt là các em trai.

 Người sắp thành niên có xu hướng chỉ suy nghĩ ở thời điểm hiện tại. Họ hoặc không có khả năng suy nghĩ về hậu quả gây ra bởi hành động của mình, hoặc không nghĩ đến tương lai và tập trung nhiều hơn vào những rủi ro và lợi ích trước mắt của hành động của mình.

 Người sắp thành niên có xu hướng rất quan tâm đến sự nhìn nhận của người khác. Trong khi trẻ nhỏ tìm kiếm sự chấp thuận chủ yếu từ cha mẹ, người sắp thành niên tìm kiếm sự chấp thuận từ nhóm đồng trang lứa. Điều này khiến họ dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực từ những người cùng trang lứa hơn và dễ bị bắt nạt hơn.

 Người sắp thành thiếu niên đang cố gắng trở thành người lớn và cố khẳng định sự độc lập của mình cũng như ý thức về bản thân. Điều này thường liên quan đến hành động thách thức cha mẹ cùng những người có thẩm quyền và những hành vi nổi loạn. Đây là một phần bình thường của quá trình lớn lên và hầu hết người sắp thành niên sẽ tự mình vượt qua điều này.

 Do khao khát được gắn bó và “được chấp nhận”, nên người sắp thành niên cũng rất dễ bị ảnh hưởng bới sự kỳ thị. Những người sắp thành niên cảm thấy bị kỳ thị, xa lánh hoặc bị gắn mác là “kẻ tội lỗi” thường có nguy cơ tham gia vào các hành vi chống đối xã hội hơn.

 Nổi loạn và dính vào rắc rối là một phần bình thường của quá trình trưởng thành. Hầu hết trẻ em sẽ thực hiện một số loại vi phạm pháp luật hoặc chống lại xã hội trong những năm sắp thành niên. Phần lớn trong số họ sẽ bỏ được hành vi xấu này khi họ trưởng thành và trở thành những người trưởng thành có trách nhiệm.

Những tiến bộ gần đây trong công nghệ chụp cộng hưởng từ (MRI) đã giúp nâng cao hiểu biết khoa học về lý do tại sao những đặc điểm này phổ biến ở thanh thiếu niên và đã đưa ra cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức và thời điểm người sắp thành thiếu niên đạt đến độ trưởng thành hoàn toàn:

 

image

Bộ não của một người không phát triển đầy đủ cho đến giai đoạn đầu hoặc giữa tuổi 20. Trong giai đoạn sắp thành niên, cơ thể trẻ phát triển nhanh chóng trong khi não phát triển chậm chạp, đặc biệt là tại những khu vực cho phép trẻ suy nghĩ và lập luận một cách logic.

 Thùy trán hoặc “trung tâm chỉ huy” (biểu thị bằng màu xanh nước biển trong sơ đồ), là một trong những phần cuối cùng của bộ não phát triển đầy đủ. Nó kiểm soát việc đưa ra quyết định, bao gồm cả việc lập kế hoạch dài hạn, đánh giá rủi ro, kiểm soát tính bốc đồng, và các hành vi khác gắn với tội hình sự.   

 Như sơ đồ cho thấy, phần não này không phát triển đầy đủ cho đến khi trưởng thành. Đặc biệt, vỏ não trước trán - chịu trách nhiệm xử lý nhận thức, giải quyết vấn đề, lường trước hậu quả và kiểm soát cảm xúc - ít phát triển hơn ở người sắp thành niên so với người lớn.2

Sự kém phát triển của não giải thích tại sao người người sắp thành niên không thể suy luận tốt như người lớn. Do bộ não vẫn còn non nớt và đang phát triển, thanh thiếu niên rất hạn chế về khả năng đưa ra quyết định một cách có trách nhiệm và dựa trên lý trí, khả năng xét đoán một cách hợp lý, đánh giá rủi ro và cân bằng cảm xúc. Ngay cả khi năng lực của họ ở những lĩnh vực khác đã phát triển hoàn thiện, thanh thiếu niên không thể suy nghĩ lập luận như người lớn được vì thùy trán của họ chưa phát triển đầy đủ.

Các nghiên cứu khoa học củng cố cho luận thuyết đang ngày càng được nhiều nước trên thế giới công nhận đó là người sắp thành niên dưới 18 tuổi không có khả năng chịu toàn bộ trách nhiệm như của người trưởng thành trong xã hội. Người sắp thành niên không thể tuân theo các tiêu chuẩn hành vi giống như người trưởng thành vì bộ não của họ chưa đủ phát triển để đưa ra các quyết định đúng đắn, để đánh giá hậu quả gây ra bởi hành động của họ và để kiềm chế các xung động theo cách mà một người trưởng thành có thể làm được.

Quá trình phát triển của người sắp thành niên cũng chịu tác động lớn bởi môi trường của trẻ. Người sắp thành niên nhận biết về đúng sai thông qua quan sát những người xung quanh. Một số người sắp thành niên có mạng lưới hỗ trợ tốt và được lớn lên bên cạnh những hình mẫu tích cực. Số khác lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn và có ít lựa chọn dành cho họ hơn. Người sắp thành niên không có gia đình nuôi dưỡng, không được yêu thương và không có ý thức về sự gắn bó có thể gặp khó khăn trong việc phát triển cảm nhận về năng lực, nhận thức đúng sai và chịu trách nhiệm về một hành động của họ. Người sắp thành niên bị bỏ rơi, bị lạm dụng và bị coi thường hoặc có gia đình không hạnh phúc do xung đột có thể không bao giờ phát triển những năng lực nói trên. Điều này có thể góp phần vào sự phát triển của hành vi phản xã hội.

Hành vi của người chưa thành niên cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những khiếm khuyết về mặt học tập và sự rối loạn về cảm xúc và hành vi. Trên phạm vi toàn cầu, người sắp thành niên có khiếm khuyết về phát triển đang có xu hướng tăng đột biến trong hệ thống tư pháp cho người sắp thành niên. Đối phó với hành vi thể hiện mình của người sắp thành niên mà không hiểu biết về những khiếm khuyết hay khuyết tật cơ bản của trẻ thì sẽ không đạt được kết quả tích cực mang tính lâu dài cho cả người sắp thành niên cũng như cộng đồng nơi họ sinh sống.

5.  Lợi ích tốt nhất của trẻ em

image

Điều 3 của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định rằng, trong tất cả các hành động tòa án thực hiện, lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là mối quan tâm hàng đầu. Nội dung này đã được ghi nhận trong phần quy định về các nguyên tắc của Luật trẻ em, rằng phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em trong các quyết định liên quan đến trẻ em (điều 5, khoản 3).

Ủy bản về quyền trẻ em của LHQ3 đã nhấn mạnh rằng khái niệm lợi ích tốt nhất của trẻ em rất phức tạp và phải được xác định trong từng trường hợp cụ thể. Ủy ban này đã đưa ra hướng dẫn về việc ra quyết định vì lợi ích tốt nhất của trẻ em như sau:

§ Bất cứ khi nào một quyết định được đưa ra chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới trẻ em, quy trình đưa ra quyết định phải bao gồm việc đánh giá tác động có thể xảy ra (tích cực hay tiêu cực) của quyết định đó đối với đứa trẻ.

§ Lý do cho phán quyết của tòa án phải thể hiện được rằng lợi ích tốt nhất của trẻ đã được tính đến một cách rõ ràng, bao gồm cả việc mô tả về cách kiểm tra và đánh giá lợi ích tốt nhất của trẻ, những tiêu chí được sử dụng, và lợi ích của trẻ đã được cân nhắc như thế nào khi so sánh với các mối quan tâm khác.

§ Nếu một quy định pháp luật có thể được giải thích theo nhiều hướng khác nhau thì nên lựa chọn hướng giải thích nào vì lợi ích tốt nhất của trẻ.

§ Quyền lợi của trẻ phải được ưu tiên ở mức cao. Việc diễn đạt nó là “Mối quan tâm hàng đầu” có nghĩa là lợi ích tốt nhất của trẻ em không thể được xem là ngang hàng với những mối quan tâm khác. Nếu quyền lợi của trẻ em mâu thuẫn với quyền lợi của các bên khác, thẩm phán sẽ phải phân tích và cân nhắc quyền của tất cả các bên liên quan, lưu ý rằng quyền của trẻ em được hưởng các lợi ích tốt nhất chiếm vị thế là mối quan tâm hàng đầu có nghĩa là quyền lợi của trẻ em có thứ tự ưu tiên cao chứ không chỉ ngang hàng với các mối quan tâm khác. Những gì là tốt nhất cho trẻ phải được xem là có trọng lượng hơn những thứ khác.

§ Trường hợp có nhiều đứa trẻ cùng tham gia tố tụng, lợi ích tốt nhất của tất cả trẻ em có liên quan cần được đánh giá và cân nhắc riêng rẽ, nhằm hài hòa các lợi ích xung đột có thể có của trẻ em. Các xung đột có khả năng xảy ra giữa lợi ích tốt nhất của một đứa trẻ được xem xét một cách riêng rẽ với lợi ích của một nhóm trẻ em hoặc trẻ em nói chung phải được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể, cân nhắc một cách cẩn thận quyền lợi của tất cả các bên và tìm ra một sự thỏa hiệp phù hợp.

Danh mục các nhân tố cần xem xét khi xác định lợi ích tốt nhất của trẻ em

image

Quan điểm của trẻ em là một yếu tố quan trọng để xem xét khi quyết định những gì là lợi ích tốt nhất của trẻ. Quan điểm của trẻ sẽ được thẩm phán đánh giá xem có trọng lượng thế nào phụ thuộc vào:

§ tuổi tác và mức độ trưởng thành của trẻ;

§ mức độ hiểu biết của trẻ về các vấn đề tranh chấp và khả năng đánh giá các hệ quả hoặc tác động của những phương hướng giải quyết có thể áp dụng;

§ trẻ có thể tự do bày tỏ quan điểm của mình ở mức độ nào (ví dụ như liệu trẻ có bị ảnh hưởng bởi cha mẹ hay không);

§ tính rõ ràng, độ mạnh mẽ và tính nhất quán của các quan điểm của trẻ;

§ hệ quả gây ra đối với tình trạng hạnh phúc mang tính cảm xúc xã hội của trẻ nếu quan điểm của chúng bị từ chối;

§ Mức độ đồng tình giữa các anh chị em.

image

Bản sắc của trẻ. Mặc dù trẻ em thường có chung các nhu cầu cơ bản, chúng cũng có những nhu cầu khác biệt dựa trên bản sắc cũng như đặc điểm cá nhân của trẻ, bao gồm cả các đặc điểm như:

§ Giới tính và xu hướng tình dục

§ Nguồn gốc quốc gia

§ Tôn giáo và tín ngưỡng

§ Bản sắc văn hóa

§ Nhân cách

Ví dụ, khi quyết định về việc nhận con nuôi hay việc xin quyền nuôi dưỡng trẻ em, phải xem xét đến sự liên tục về bối cảnh dân tộc, tôn giáo, văn hóa và ngôn ngữ của trẻ.

image

Gìn giữ môi trường gia đình và duy trì các mối quan hệ: Gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của trẻ em. CƯQTE nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc ngăn chặn sự chia rẽ gia đình và gìn giữ sự gắn kết gia đình, đồng thời ghi nhận rằng một đứa trẻ bị tách khỏi bố hay mẹ hoặc cả bố lẫn mẹ có quyền duy trì các mối quan hệ cá nhân và tiếp xúc trực tiếp với cả bố và mẹ một cách thường xuyên, trừ khi điều đó trái với lợi ích tốt nhất của trẻ.

Quyết định của thẩm phán phải cân nhắc đến tầm quan trọng của việc đảm bảo rằng trẻ em duy trì tiếp xúc và các mối quan hệ với cả bố lẫn mẹ cũng như họ hàng (bao gồm cả anh chị em, ông bà, cô dì chú bác, bạn bè và những người khác mà đứa trẻ có mối quan hệ cá nhân gần gũi), trừ khi điều này trái với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ đó.

image

Chăm sóc, bảo vệ và an toàn của trẻ: mối bận tâm hàng đầu là nhu cầu đảm bảo trẻ mạnh khỏe và phát triển toàn diện, và phải bảo vệ trẻ khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất hoặc tinh thần, khỏi việc lạm dụng và bóc lột. Điều này đòi hỏi phải có sự đánh giá về tình trạng sức khỏe và an toàn của trẻ cũng như những nguy cơ tổn hại đến trẻ trong tương lai và bất kỳ hệ quả tiêu cực nào khác của quyết định.

image

Trường hợp dễ bị tổn thương như tàn tật, thuộc nhóm thiểu số, là nạn nhân của việc lạm dụng, sống lang thang v.v... Thẩm phán phải tính đến các nhu cầu và rủi ro đặc biệt đối với những trẻ em thuộc nhóm dễ bị tổn thương, lưu ý đến hoàn cảnh đặc biệt của chúng.

image

Quyền trẻ em về sức khỏe: quyền của trẻ về sức khỏe và điều kiện sức khỏe của trẻ là vấn đề trọng tâm khi đánh giá lợi ích tốt nhất của trẻ. Nó bao gồm cả sức khỏe về mặt thể chất lẫn tinh thần của trẻ, và nên bao hàm cả khả năng tiếp cận dịch vụ về y tế trong trường hợp ốm đau, chế độ dinh dưỡng phù hợp, chế độ vận động, tiêm chủng và kiểm tra thể chất thường xuyên.

image

Quyền được giáo dục của trẻ: Lợi ích tốt nhất của trẻ bao hàm cả quyền được tiếp cận với hệ thống giáo dục chất lượng, bao gồm cả giáo dục ở cấp cơ sở, cấp hai và cấp ba cũng như giáo dục mầm non, giáo dục phi chính quy và đào tạo nghề. Tất cả các quyết định liên quan đến trẻ em phải tôn trọng lợi ích tốt nhất của trẻ liên quan đến quyền được tiếp cận và theo đuổi việc học tập.

Ủy ban về quyền trẻ em của LHQ đã nhấn mạnh rằng khái niệm lợi ích tốt nhất của trẻ em rất linh hoạt và có thể tùy biến. Nó nên được điều chỉnh và xác định trên cơ sở từng cá nhân, theo tình hình cụ thể của một đứa trẻ hay nhiều đứa trẻ có liên quan, có tính đến bối cảnh, hoàn cảnh và nhu cầu cá nhân của mỗi đứa trẻ. Khi xem xét lợi ích tốt nhất của trẻ, không phải tất cả các yếu tố đều phù hợp cho mọi vụ việc, và các yếu tố khác nhau có thể được sử dụng theo những cách khác nhau đối với những vụ việc khác nhau. Trong một số trường hợp, các yếu tố đánh giá lợi ích tốt nhất của trẻ có thể mâu thuẫn với nhau. Ví dụ như việc giữ môi trường gia đình có thể mâu thuẫn với nhu cầu bảo vệ trẻ khỏi các nguy cơ về bạo lực hoặc bị lạm dụng bởi bố mẹ. Trong những trường hợp như vậy, các yếu tố sẽ phải được cân nhắc, đối chiếu với nhau nhằm tìm ra giải pháp mang lại lợi ích tốt nhất cho trẻ.


Tài liệu tham khảo

Tiêu chuẩn quốc tế

Công ước về quyền tr em.

Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về hoạt động tư pháp dành cho người sắp thành niên.

Các quy tắc của LHQ về bảo vệ người sắp thành niên bị tước quyền tự do

Hướng dẫn của LHQ về phòng chống tội phạm sắp thành niên

Hướng dẫn của LHQ về hướng dẫn đối với hoạt động tư pháp đối với các vấn đề liên quan đến người bị hại và người làm chứng là người chưa thành niên.

Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền LHQ Quyền của trẻ em: Tiếp cận công lý cho trẻ em

Các chiến lược mẫu và các biện pháp hành động của LHQ về xóa bỏ bạo lực đối với trẻ em trong lĩnh vực phòng chống tội phạm và tư pháp hình sự

Ủy ban về quyền trẻ em của Liên hợp quốc, Bình luận chung số 10 (2007): Quyền trẻ em trong tư pháp đối với người sắp thành niên

Ủy ban về quyền trẻ em của Liên hợp quốc, Bình luận chung số 12 (2009): Quyền được lắng nghe của trẻ em

Ủy ban về quyền trẻ em của Liên hợp quốc, Bình luận chung số 13 (2011): về quyền của trẻ em không phải chịu mọi hình thức bạo lực

Ủy ban về quyền trẻ em của Liên hợp quốc, Bình luận chung số 14 (2013): về quyền của trẻ em được hưởng lợi ích tốt nhất với tư cách là mối quan tâm hàng đầu

Hội đồng Châu Âu, Hướng dẫn của Ủy ban Bộ trưởng Hội đồng Châu Âu về công lý thân thiện với trẻ em

Sổ tay và các bộ công cụ

UNICEF Bộ công cụ trực tuyến về chuyển hướng và giải pháp thay thế cho việc giam giữ.

UNICEF / UNODC Đào tạo trực tuyến cho các chuyên gia tư pháp xlý nạn nhân trẻ em.

UNODC (2009) Sổ tay dành cho chuyên gia và nhoạch định chính sách về tư pháp trong các vấn đề liên quan đến người bị hạingười làm chứng là trẻ em.

UNODC-UNICEF (2009) Luật mẫu và những bình luận liên quan về tư pháp trong các vấn đề liên quan đến người bị hại và người làm chứng là trẻ em

UNODC (2013) Luật mẫu về Tư pháp cho người sắp thành niên và Bình luận liên quan

Viện hành chính tư pháp Australia (2015) Sổ tay thẩm phán về việc trẻ em cung cấp chứng cứ tại Tòa án của Australia .

WHO (2003) Hướng dẫn chăm sóc y tế và pháp lý cho các nạn nhân của bạo lực tình dục

WHO (2017) Hướng dẫn y tế: Điều trị trẻ em và người sắp thành niên bị lạm dụng tình dục

*1Xem: Louise Sas (2001) The Interaction Between Children’s Developmental Capabilities and the Courtroom Environment: The Impact on Testimonial Competency, Department of Justice Canada; Australasian Institute of Judicial Administration, Bench Book for Children giving Evidence in Australian Courts, 2015; J. R. Spencer and R. H. Flin (eds.) (1990) The Evidence of Children: The Law and the Psychology, London: Blackstone Press; H. L. Westcott, G. M. Davies and R. Bull (eds.) (2002) Children’s Testimony: A Handbook of Psychological Research and Forensic Practice, Chichester: Wiley, 2002.

*2National Institute of Mental Health: Imaging Study Shows Brain Maturing.

*3UN Committee on the Rights of the Child, General Comment No. 14 (2013) on the right of the child to have his or her best interests taken as a primary consideration.

File toàn văn Tài liệu tập huấn "Trao đổi kinh nghiệm hoạt động và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên"

Danh sách tệp tin đính kèm

STT Tệp tin đính kèm Tải về
1 Bai 1_Shelley_ Vi sao can co cach tiep can dac biet_VNM.pptx Tải về
2 Bai 4_Ryan_Loi ich tot nhat cua TE trong cac vu an gia dinh co cao buoc xam hai_VNM.pptx Tải về
3 Bai 3_Stevenson_bao ve loi ich tot nhat cua TE tai toa gia dinh Uc_VNM.ppt Tải về
4 Bai 2_Shelley_Ky nang dat cau hoi hieu qua_VNM.rar Tải về
Lượt xem: 1470
ácdscv