Skip to main content

2017 Nov logo mới/var/folders/rr/bwytntyx5rj759tpj71t0wx80000gn/T/com.microsoft.Word/Content.MSO/7CF476E8.tmp/var/folders/rr/bwytntyx5rj759tpj71t0wx80000gn/T/com.microsoft.Word/Content.MSO/32F74536.tmp

 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỐI CAO VIỆT NAM

LIÊN MINH CHÂU ÂU 

CHƯƠNG TRÌNH

PHÁT TRIỂN LHQ

BÁO CÁO

ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM

VỀ HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN VIỆT NAM

image

Tháng 5 năm 2020


NHÓM NGHIÊN CỨU

  

1. PGS.TS. Nguyễn Bá Bình – Trưởng nhóm nghiên cứu – Chuyên gia UNDP

Trưởng Khoa Pháp luật thương mại quốc tế

Trường Đại học Luật Hà Nội (Việt Nam)

Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)

2. PGS.TS. Trần Anh Tuấn – Thành viên nhóm nghiên cứu – Chuyên gia UNDP

Phó Trưởng khoa, phụ trách Khoa Pháp luật dân sự

Trường Đại học Luật Hà Nội (Việt Nam)

3. GS. Michael R. Schuetz – Chuyên gia UNDP

Trưởng phòng Pháp quyền

Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu, Phái đoàn tại Bosnia and Herzegovina

4. ThS. Hoàng Thị Thúy Vinh – Hỗ trợ nhóm nghiên cứu

Phó Vụ trưởng

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

Tòa án nhân dân tối cao (Việt Nam)

5. NCS. Phan Thị Thu Hà – Hỗ trợ nhóm nghiên cứu

Phó Trưởng phòng,

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

Tòa án nhân dân tối cao (Việt Nam)

6. ThS. Hà Lệ Thủy – Hỗ trợ nhóm nghiên cứu

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

Tòa án nhân dân tối cao (Việt Nam)

7. NCS. Phạm Thị Hằng – Hỗ trợ nhóm nghiên cứu

Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học

Tòa án nhân dân tối cao (Việt Nam)


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Tỷ lệ hòa giải, đối thoại thành theo từng loại vụ việc ở từng địa phương;

Biểu đồ 2: Số lượng từng loại vụ việc hòa giải, đối thoại thành ở từng địa phương;

Biểu đồ 3: Tỷ lệ vụ việc hòa giải, đối thoại có sự tham gia của phụ nữ;

Biểu đồ 4: Số liệu hòa giải thành các vụ việc hôn nhân;

Biểu đồ 5: Độ tuổi ly hôn năm 2019;

Biểu đồ 6: Vụ việc hôn nhân có con dưới 18 tuổi;

Biểu đồ 7: Đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên;

Biểu đồ 8: Tỷ lệ thi hành kết quả hòa giải, đối thoại thành;

Biểu đồ 9: Thời gian tiến hành một vụ việc hòa giải, đối thoại;

Biểu đồ 10: Lợi ích mà các bên nhận được khi hòa giải, đối thoại thành;

Biểu đồ 11: Phương thức liên hệ giữa Hòa giải viên, Đối thoại và các bên;

Biểu đồ 12: Địa điểm tiến hành hòa giải, đối thoại;

Biểu đồ 13: Lý do lựa chọn làm Hòa giải viên, Đối thoại viên;

Biểu đồ 14: Nguyện vọng của các Hòa giải viên, Đối thoại viên;

Biểu đồ 15: Vụ việc hòa giải, đối thoại có sự trợ giúp của người có uy tín;

Biểu đồ 16: Lựa chọn phương thức tính thù lao của Hòa giải viên, Đối thoại viên;

Biểu đồ 17: Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của Hòa giải viên, Đối thoại viên.

MỤC LỤC

Trang

I. MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN ….......….6

1.1. Bối cảnh xây dựng mô hình thí điểm ………………………………...…..6

1.1.1. Tình hình giải quyết các tranh chấp dân sự và khiếu kiện hành chính tại Tòa án ……..………………………………………………………………...…..6

1.1.2. Tình hình hoạt động của các cơ chế hòa giải, đối thoại hiện hành tại Việt Nam ………………………………………………………………...….....7

1.2. Những đặc điểm chính của mô hình thí điểm ………………...……....…9

1.2.1. Phạm vi và đối tượng áp dụng ……………………………….……….…9

1.2.2. Chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại ………………………….………10

1.2.3. Vai trò của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại ……….…....…10

1.2.4. Thời hạn hòa giải, đối thoại ……………………………...…………….11

1.2.5. Bảo mật thông tin trong hòa giải, đối thoại …...…….…..……...….......11

1.2.6. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại ……………………....……............11

1.2.7. Công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành ………….……….12

1.2.8. Xử lý kết quả hòa giải, đối thoại không thành ………………...………13

II. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ HÒA GIẢI GẮN VỚI TÒA ÁN ….....14

2.1. Khái quát chung về hòa giải gắn với Tòa án……………………….…...14

2.2. Một số mô hình hòa giải điển hình………………………………………15

2.3. Các đặc điểm của hòa giải gắn với Tòa án……………………...………24

2.3.1. Vai trò của Thẩm phán trong hòa giải gắn với Tòa án……………..…24

2.3.2. Thương lượng và trung gian trong tố tụng trong mối tương quan với hòa giải gắn với Tòa án……………………………………………………………...……..26

2.3.3. Tiêu chuẩn và tuyển chọn Hòa giải viên……………………………….28

2.3.4. Các vấn đề về thủ tục hòa giải và quản lý hành chính…………...……29

III. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN …………………………………………………...…………….…33

3.1. Tóm tắt chương trình khảo sát.....................................................…….…33

3.2. Thành tựu của hoạt động thí điểm ………..………………………….…34

3.2.1. Kết quả hòa giải, đối thoại theo từng loại vụ việc …………….…….…34

3.2.2. Kết quả hòa giải, đối thoại đối với nhóm người yếu thế ……………....35

3.2.3. Năng lực của Hòa giải viên, Đối thoại viên …………………...…...….39

3.2.4. Một số trường hợp điển hình về hòa giải thành, đối thoại thành ….…40

3.2.5. Thi hành kết quả hòa giải thành, đối thoại thành ……………….……44

3.2.6. Tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho các bên tham gia hòa giải, đối thoại và các cơ quan tiến hành tố tụng ……………………………………45

3.3. Các yếu tố căn bản tạo nên thành công ………………………………....46

3.3.1. Sự linh hoạt trong trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại …………….….46

3.3.2. Đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên có năng lực và tâm huyết ..…....48

3.3.3. Sự hỗ trợ tích cực của Tòa án, các cơ quan và tổ chức có liên quan ….49

3.4. Một số khó khăn, vướng mắc ………………………………………....…51

3.4.1. Tuyển chọn, bổ nhiệm và quản lý Hòa giải viên, Đối thoại viên ………51

3.4.2. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại …………….………….….…….…51

3.4.3. Niềm tin và sự ủng hộ của người dân ……………….……….……...…52

3.4.4. Kinh phí và cơ sở vật chất …………………………………….….…..…52

IV. CÁC KIẾN NGHỊ ..……………………………………………....….……52

4.1. Một số nội dung của dự án Luật……………………………………….…52

4.1.1. Phạm vi và đối tượng áp dụng của Luật hòa giải, đối thoại……………52

4.1.2. Chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại………………………….….….…53

4.1.3. Vai trò của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại…………………55

4.1.4. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại…………………...………….…….55

4.1.5. Việc công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành…………..…...57

4.1.6. Việc xử lý kết quả hòa giải, đối thoại đối thoại không thành………..…57

4.2. Những vấn đề bảo đảm thi hành Luật……………….………...……..….58

4.2.1. Tuyên truyền phổ biến Luật…………………………...….………….….58

4.2.2. Tuyển chọn và bồi dưỡng Hòa giải viên, Đối thoại viên…….……..…..58

4.2.3. Huy động sự trợ giúp từ các tổ chức có liên quan………………...……59

4.2.4. Xây dựng tổ chức, trung tâm hòa giải, đối thoại trong tương lai……...59

4.2.5. Những vấn đề khác……………………………………...…………….…59

  

  I. MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN

1.1. Bối cảnh xây dựng mô hình thí điểm

1.1.1. Tình hình giải quyết các tranh chấp dân sự và khiếu kiện hành chính tại Tòa án

Năm 2013, Việt Nam ban hành Hiến pháp mới1, trong đó quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân2. Theo chức năng, nhiệm vụ nêu trên của Tòa án nhân dân, cùng với những sửa đổi, bổ sung của các đạo luật mới, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã được ban hành với thẩm quyền của Tòa án được mở rộng hơn trước đây3, ví dụ như như bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án – Điều 27, thẩm quyền giải quyết đối với đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai– Điều 26, yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình - Điều 29, Điều 43... Trên thực tế, các tranh chấp, khiếu kiện mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết ngày càng tăng cả về số lượng và tính chất phức tạp. Trong 03 năm 2016, 2017, 2018, các Tòa án nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh đã giải quyết 1.035.478 vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động trong tổng số 1.196.487 vụ việc đã thụ lý. Trong đó: năm 2017, Tòa thụ lý 394.970 vụ việc (so với năm 2016, số vụ thụ lý tăng 41.521 vụ, tăng 11,8%); năm 2018, Tòa án thụ lý 448.068 vụ việc (so với năm 2017, số vụ thụ lý tăng 53.098 vụ, tăng 13,4%)4.

Trong khi đó, số lượng biên chế của Tòa án hiện chưa đáp ứng được yêu cầu so với cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, thẩm quyền của các Tòa án. Ngoài ra, từ cuối năm 2017, Tòa án nhân dân còn phải giảm biên chế chung theo chủ trương của Đảng5.

Với bối cảnh như trên, để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ hiệu quả trong tình hình tinh giản biên chế, việc sớm có giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác hòa giải trong giải quyết các vụ việc dân sự, đối thoại trong giải quyết các khiếu kiện hành chính là một đòi hỏi bức thiết nhằm nâng cao chất lượng công tác Tòa án, tạo ra sự chuyển biến căn bản trong thực hiện các nhiệm vụ công tác nói chung và việc giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự, hành chính nói riêng.

1.1.2. Tình hình hoạt động của các cơ chế hòa giải, đối thoại hiện hành tại Việt Nam

Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, có thể phân loại cơ chế hòa giải, đối thoại trong giải quyết tranh chấp, khiếu kiện thành hai nhóm: Hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng và hòa giải, đối thoại trong tố tụng.

(1) Hòa giải, đối thoại ngoài tố tụng

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định một số cơ chế hòa giải ngoài tố tụng như: (1) Hòa giải ở cơ sở theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở; (2) Hòa giải tranh chấp lao động theo quy định của Bộ luật Lao động6; (3) Hòa giải thương mại theo quy định của Luật Thương mại7; (4) Hòa giải tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định của Luật Đất đai8 và một số loại khác (như hòa giải tranh chấp sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng). Đặc điểm chung của các cơ chế hòa giải này là được tiến hành bởi các cá nhân, tổ chức ngoài Tòa án, đối với các tranh chấp mà chưa được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng nên các cơ chế hòa giải này còn được gọi là hòa giải ngoài Tòa án. Kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận khi có yêu cầu9. Đối với hoạt động đối thoại, pháp luật cũng quy định cơ chế đối thoại ngoài Tòa án như: Đối thoại giữa người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Luật Khiếu nại10. Kết thúc quá trình hòa giải, đối thoại nêu trên mà không thành, người dân có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tỷ lệ hòa giải thành của cơ chế hòa giải ở cơ sở từ năm 2016 đến năm 2018 đạt trung bình là 82,06% (323.046 vụ/ 393.649)11. Tuy nhiên số lượng vụ việc do Hòa giải viên cơ sở thực hiện hòa giải chỉ chiếm 32,9% số lượng vụ việc mà Tòa án phải thụ lý giải quyết (393.649/1.196.487 vụ việc), chủ yếu được tiến hành đối với những mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ, đồng thời số lượng các vụ việc được hòa giải thành ở cơ sở có xu hướng giảm dần qua các năm (năm 2016 là 115.651 vụ việc, năm 2017 là 108.757 vụ việc, năm 2018 là 98.638 vụ việc)12. Số vụ tranh chấp lao động được Hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải là rất ít, Hòa giải viên lao động mới bước đầu tham gia giải quyết một số tranh chấp lao động cá nhân ở một số tỉnh, thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương (bình quân mỗi Hòa giải viên tham gia giải quyết khoảng 10 vụ/năm)13. Bên cạnh đó, hiện nay, cả nước có 08 Trung tâm trọng tài thương mại được bổ sung chức năng hòa giải thương mại độc lập từ tháng 04/201714. Cho tới nay, chưa có số liệu báo cáo chính thức về vụ việc tranh chấp thương mại được giải quyết theo phương thức hòa giải thương mại15. Tuy nhiên, do mới đi vào hoạt động16, các trung tâm này có rất ít vụ việc hòa giải, điển hình như Trung tâm Hòa giải Việt Nam (VMC) thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC - một trung tâm trọng tài lớn và uy tín tại Việt Nam) thì trong năm đầu tiên hoạt động (năm 2019) cũng chỉ hòa giải được 5 vụ tranh chấp thương mại17. Hơn nữa, các vụ tranh chấp thương mại được đưa ra hòa giải tại VMC thường có giá trị tranh chấp rất lớn18.

Như vậy, các cơ chế hòa giải ngoài Tòa án đã đạt những kết quả nhất định, góp phần giảm những vụ việc phải đưa ra giải quyết tại Tòa án. Tuy nhiên, số lượng tranh chấp được hòa giải ngoài Tòa án chỉ chiếm phần nhỏ so với số lượng tranh chấp mà Tòa án phải thụ lý, giải quyết hàng năm.

(2) Hòa giải, đối thoại trong tố tụng

Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam quy định hòa giải là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, được tiến hành để giải quyết vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự). Theo đó, Thẩm phán được Chánh án phân công giải quyết vụ việc dân sự có trách nhiệm tiến hành hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm19. Thẩm phán thực hiện hai nhiệm vụ chính khi tiến hành hòa giải, đó là: (1) phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án; và (2) phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành cho các bên20. Việc thỏa thuận giải quyết tranh chấp thuộc quyền chủ động của các bên.

Luật Tố tụng hành chính quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành đối thoại và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự đối thoại với nhau về việc giải quyết vụ án hành chính theo quy định của Luật này21. Vai trò của Thẩm phán trong đối thoại khiếu kiện hành chính cũng tương tự như trong hòa giải tranh chấp dân sự. Sự khác biệt giữa “hòa giải” và “đối thoại” xuất phát từ tính chất “thỏa thuận” trong giải quyết tranh chấp dân sự và tính “không thể thỏa thuận” trong giải quyết khiếu kiện hành chính vì bên bị kiện thực hiện quản lý hành chính nhà nước. Do vậy, kết quả đối thoại thành được giới hạn trong sự thống nhất của các bên về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Tính đến nay, tỷ lệ hòa giải thành trong giải quyết các vụ án dân sự của các Tòa án trung bình hàng năm đạt 50%22. Trong khi tỷ lệ đối thoại thành trung bình là 10% (cấp huyện là 13,63%, cấp tỉnh là 6,21%)23. Các số liệu này cho thấy sự thành công nhất định của công tác hòa giải, đối thoại trong tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại Tòa án cũng cho thấy, cơ chế hòa giải, đối thoại trong tố tụng hiện hành bộc lộ những hạn chế, bất cập, điển hình là hai vấn đề sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại: Thẩm phán là người tiến hành hòa giải, đối thoại đồng thời là người xét xử vụ việc nếu hòa giải, đối thoại không thành nên Thẩm phán bị ràng buộc bởi các quy định tố tụng, như phải xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định24; việc hòa giải của Thẩm chỉ giới hạn ở việc phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án25, khó phát huy được vai trò tích cực trong việc đề xuất phương án hòa giải, đối thoại cho các bên. Mặt khác, đương sự thường có tâm lý thận trọng khi trình bày trước Thẩm phán vì lời trình bày của họ có thể là chứng cứ bất lợi với họ. Do vậy, những nguyên nhân mâu thuẫn, tranh chấp khó được giải quyết triệt để, từ đó hạn chế hiệu quả của việc hòa giải, đối thoại.

Thứ hai, về trình tự, thủ tục hòa giải: việc hòa giải, đối thoại được tiến hành bởi trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ và công khai tại trụ sở Tòa án và trong giờ hành chính, không phát huy được tính linh hoạt về thủ tục, thời gian, địa điểm và bảo mật thông tin trong hòa giải, đối thoại.

Trước tình trạng số lượng án ngày càng tăng mạnh về cả số lượng và mức độ phức tạp và trong bối cảnh tinh giản biên chế như đã trình bày tại tiểu mục 1.1.1 trên đây thì việc đổi mới cơ chế hòa giải, đối thoại là giải pháp phù hợp mà Tòa án nhân dân tối cao đã đề ra.

1.2. Những đặc điểm chính của mô hình thí điểm

Mô hình hòa giải, đối thoại tại Tòa án được thí điểm trên cơ sở đổi mới hai nhân tố quan trọng là chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại và trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại, cụ thể như dưới đây.

1.2.1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

Theo mô hình thí điểm, việc hòa giải các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động (sau đây gọi tắt là tranh chấp dân sự), đối thoại các khiếu kiện hành chính tại Tòa án nhân dân được tiến hành trước khi Tòa án thụ lý, giải quyết trừ những tranh chấp, khiếu kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính không được hòa giải, đối thoại hoặc không tiến hành hòa giải, đối thoại được.26

1.2.2. Chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại27

Hòa giải viên, Đối thoại viên được lựa chọn từ những Thẩm phán đã về hưu; những người đã từng là Kiểm sát viên, Điều tra viên, chuyên viên pháp lý trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Thi hành án, các cơ quan Đảng và nhà nước khác thuộc khối nội chính; luật sư, luật gia, Hội thẩm nhân dân hoặc những người khác có kiến thức pháp luật, có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, kinh nghiệm trong hòa giải, đối thoại, có uy tín trong cộng đồng.

Trung tâm hòa giải, đối thoại được thành lập tại một số Tòa án nhân dân cấp huyện và tỉnh của 16 địa phương được lựa chọn thực hiện thí điểm28. Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án nơi thực hiện thí điểm làm giám đốc Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

1.2.3. Vai trò của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại

Tòa án thực hiện vai trò chính như sau:29

- Tuyển chọn, bổ nhiệm, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ Hòa giải viên, Đối thoại viên; hướng dẫn hoạt động hòa giải, đối thoại; phân công Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện hòa giải, đối thoại.

- Phân công người thực hiện các nhiệm vụ hành chính, tư pháp, ghi biên bản hòa giải, đối thoại (khi có yêu cầu);

- Công nhận kết quả hòa giải thành theo thủ tục việc dân sự, công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn nếu có yêu cầu; trả lại đơn khởi kiện khi người khởi kiện rút đơn khởi kiện; nhận lại và xem xét thụ lý vụ án khi hòa giải, đối thoại không thành;

- Bố trí phòng làm việc, trang thiết bị, phương tiện làm việc cần thiết, chi trả thù lao cho hoạt động của Hòa giải viên, Đối thoại viên.

1.2.4. Thời hạn hòa giải, đối thoại30

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày được phân công, Hòa giải viên, Đối thoại viên phải tiến hành hòa giải, đối thoại. Trường hợp vụ việc phức tạp mà các bên tham gia hòa giải, đối thoại cần bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ hoặc theo yêu cầu chính đáng của họ thì thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 10 ngày.

Thời hạn hòa giải, đối thoại là 30 ngày; trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn, nhưng không quá 02 tháng.

1.2.5. Bảo mật thông tin trong hòa giải, đối thoại31

(1) Không được sử dụng lời khai của một bên hoặc những người khác tham gia hòa giải, đối thoại làm chứng cứ trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính hoặc các thủ tục tố tụng khác, trừ trường hợp các bên tham gia hòa giải, đối thoại thống nhất bằng văn bản về việc không yêu cầu giữ bí mật trong quá trình hòa giải, đối thoại hoặc những thông tin liên quan đến tội phạm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác.

(2) Bất kỳ thông tin nào được trao đổi giữa một bên với Hòa giải viên, Đối thoại viên trong phiên họp riêng là bí mật và không được tiết lộ tới bất kỳ bên nào khác tham gia hòa giải, đối thoại, trừ khi có sự đồng ý trước của bên đã cung cấp thông tin.

(3) Không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản chính thức bất kỳ giai đoạn nào của thủ tục hòa giải, đối thoại, trừ Biên bản hòa giải, Biên bản đối thoại tại phiên kết thúc hòa giải, đối thoại và ghi chép của Hòa giải viên, Đối thoại viên phục vụ cho việc tiến hành hòa giải, đối thoại.

(4) Hòa giải viên, Đối thoại viên không được tham gia với tư cách người làm chứng trong quá trình tố tụng tại Tòa án hoặc khiếu nại hành chính để giải quyết tranh chấp, khiếu kiện mà mình đã tiến hành hòa giải, đối thoại.

1.2.6. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại32  

(1) Thủ tục nhận và chuyển đơn khởi kiện đến Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Ngay sau khi nhận đơn khởi kiện vụ án dân sự, đơn khởi kiện vụ án hành chính và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án phải chuyển đơn khởi kiện cho Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án; trừ trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vụ việc không được hòa giải, đối thoại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính hoặc khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện không đồng ý hòa giải, đối thoại tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Đồng thời, Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án có thể nhận đơn yêu cầu hòa giải, đối thoại của các bên tranh chấp, khiếu kiện.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc, Giám đốc Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án phải phân công một Hòa giải viên, Đối thoại viên xem xét, tiến hành hòa giải, đối thoại, phù hợp với chuyên môn, kinh nghiệm của Hòa giải viên, Đối thoại viên.

(2) Chuẩn bị hòa giải, đối thoại

Để chuẩn bị hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên phải thực hiện các hoạt động cụ thể, bao gồm: Lập, nghiên cứu hồ sơ vụ việc; Xây dựng kế hoạch hòa giải, đối thoại; Mời thành phần tham gia phiên hòa giải, đối thoại.

(3) Phiên hòa giải, đối thoại

Việc hòa giải, đối thoại tại phiên hòa giải, đối thoại được tiến hành theo thủ tục sau đây:

- Thủ tục bắt đầu phiên hòa giải, đối thoại: Trước khi tiến hành hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên kiểm tra sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hòa giải, đối thoại; thông báo về sự có mặt, vắng mặt của các bên; giới thiệu thành phần tham gia phiên hòa giải, đối thoại.

- Tiến hành hòa giải, đối thoại: Hòa giải viên, Đối thoại viên phân tích lợi ích của việc hòa giải, đối thoại thành tại Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án so với việc Tòa án thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật (án phí, các chi phí tố tụng khác, chi phí thi hành án, bí mật thông tin,…), bám sát phương án hòa giải, đối thoại đã xây dựng để tiến hành hòa giải, đối thoại; sử dụng kỹ năng, kinh nghiệm của mình đặt câu hỏi, hướng dẫn, giải thích, thuyết phục để giúp các bên đạt được những thỏa thuận về những giải pháp giải quyết tranh chấp, khiếu kiện.

- Lập Biên bản hòa giải, Biên bản đối thoại: Tại phiên kết thúc hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên lập Biên bản hòa giải, Biên bản đối thoại thể hiện rõ kết quả hòa giải thành, kết quả đối thoại thành; những nội dung hòa giải không thành, đối thoại không thành (không ghi lý do của việc hòa giải, đối thoại không thành) có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên và của Hòa giải viên, Đối thoại viên.

1.2.7. Công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành33

Trường hợp qua hòa giải, các bên thỏa thuận được với nhau về các vấn đề phải giải quyết thì tại Biên bản hòa giải thành ghi rõ những nội dung các bên thống nhất. Nếu các bên hoặc một bên tranh chấp có yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành thì Hòa giải viên hướng dẫn người đó làm đơn về yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành và chuyển hồ sơ, đơn yêu cầu và biên bản hòa giải cho Tòa án. Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết việc dân sự về yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo quy định tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà sau khi hòa giải, vợ, chồng không đồng ý đoàn tụ, nhưng thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và yêu cầu Tòa án công nhận thì Trung tâm chuyển hồ sơ vụ việc và các biên bản cho Tòa án. Tòa án xem xét, nếu hồ sơ đầy đủ theo quy định tại Chương XXVIII của Bộ luật Tố tụng dân sự về thủ tục giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì Thẩm phán (đã được phân công tham gia chứng kiến và ký tên vào các biên bản) thụ lý ngay việc dân sự. Sau khi thụ lý, Thẩm phán kiểm tra hồ sơ nếu xét thấy việc thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập các biên bản mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo quy định tại Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự (Thẩm phán không tiến hành hòa giải lại).

Trường hợp qua đối thoại mà người bị kiện cam kết sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện hoặc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện cam kết rút đơn khởi kiện thì Đối thoại viên lập biên bản về việc cam kết của họ. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, người bị kiện phải gửi cho Trung tâm quyết định hành chính mới hoặc thông báo về việc chấm dứt hành vi hành chính bị khởi kiện và người khởi kiện phải gửi cho Trung tâm văn bản rút đơn khởi kiện. Hết thời hạn này mà một trong các bên không thực hiện cam kết của mình thì Đối thoại viên thông báo cho Giám đốc Trung tâm, chuyển hồ sơ vụ việc và Biên bản đối thoại cho Tòa án để xem xét thụ lý, giải quyết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Trường hợp nhận được quyết định hành chính mới thì Trung tâm phải thông báo cho bên còn lại biết. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Trung tâm, nếu bên còn lại không có ý kiến phản đối thì Đối thoại viên thông báo cho Giám đốc Trung tâm, chuyển hồ sơ vụ việc, Biên bản đối thoại, quyết định hành chính mới cho Tòa án. Tòa án ra quyết định công nhận kết quả đối thoại thành.

1.2.8. Xử lý kết quả hòa giải, đối thoại không thành34

Trường hợp sau khi hòa giải, đối thoại mà các bên không thỏa thuận được với nhau về các vấn đề phải giải quyết thì tại Biên bản hòa giải, Biên bản đối thoại phải ghi rõ những nội dung các bên không thống nhất. Hòa giải viên, Đối thoại viên thông báo cho Giám đốc Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án, chuyển hồ sơ vụ việc và Biên bản hòa giải, Biên bản đối thoại cho Tòa án để xem xét thụ lý, giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, vụ án hành chính được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Thời gian hòa giải, đối thoại tại Trung tâm hòa giải, đối thoại là thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, vụ án hành chính35.

II. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ HÒA GIẢI GẮN VỚI TÒA ÁN

Hiện tồn tại nhiều dạng khác nhau của phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), mà các quốc gia có thể và nên xem xét, để hỗ trợ và bổ sung cho phương thức tố tụng Tòa án. Trong những năm gần đây, có sự đồng thuận gần như toàn cầu rằng sự phụ thuộc duy nhất vào các Tòa án để giải quyết tranh chấp là không đủ. Mặc dù các cơ chế tư pháp chính thức phải tồn tại trong tất cả các khu vực tài phán, quan điểm đồng nhất rằng, các lựa chọn thay thế cho phương thức tố tụng, như hòa giải, cũng cần được cung cấp cho các bên để giải quyết tranh chấp36. Với sự đa dạng trong cách tiếp cận của các quốc gia về hòa giải, thật sự không dễ dàng để chỉ ra kinh nghiệm tốt nhất trong lĩnh vực này một cách rõ ràng. Nội dung phần này là kết quả của những nỗ lực tìm ra các kinh nghiệm quý và các lựa chọn khả thi. Do đó, trong phần này, báo cáo cố gắng xác định và phân tích một số nguyên tắc liên quan đến hòa giải và đối thoại, đồng thời đưa ra các lựa chọn khác nhau để xem xét, bao gồm cả việc xác định những nơi mà thực tiễn quốc gia không có sự tương thích. Phần này cũng chỉ ra rằng, việc mở rộng các phương thức có sẵn hoặc phương thức thay thế cho các bên có thể lựa chọn khi giải quyết tranh chấp được đánh giá là động thái tích cực.

2.1. Khái quát về hòa giải gắn với Tòa án

Có nhiều định nghĩa về hòa giải được áp dụng bởi các quốc gia khác nhau, mặc dù các định nghĩa này cũng có những điểm tương đồng. Hòa giải (mediation) có thể được định nghĩa một cách chung nhất là một quy trình có trật tự (structured process), theo đó, hai hoặc nhiều bên tham gia tranh chấp tự mình, trên cơ sở tự nguyện, đạt được thỏa thuận thống nhất giải quyết tranh chấp của họ với sự hỗ trợ của Hòa giải viên37Hòa giải khác biệt với phương thức trọng tài và tố tụng Tòa án. Không giống như trọng tài hoặc tố tụng Tòa án, Hòa giải viên không có quyền lực pháp lý để buộc các bên tranh chấp chấp nhận quyết định của mình mà chỉ dựa vào sự thuyết phục để các bên đạt được sự đồng thuận38. Hòa giải cũng có thể được phân biệt với các phương thức ADR khác, chẳng hạn như trung gian (conciliation), trong đó một bên thứ ba trung lập có vai trò tích cực hơn Hòa giải viên trong việc cung cấp các giải pháp cho các bên để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, như được phân tích dưới đây, trung gian và hòa giải thường có thể giống nhau trên thực tế, tùy thuộc vào từng bối cảnh. Theo thông lệ chung của các quốc gia, quá trình hòa giải có thể được khởi xướng bởi các bên, theo đề nghị hoặc quyết định của Tòa án hoặc theo quy định của pháp luật.

Hòa giải gắn với Tòa án là một loại hòa giải, và thường chỉ bất kỳ quá trình hòa giải nào được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Tòa án, thường là đối với các tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án. Đây là một thủ tục trước khi xét xử, được thực hiện đối với các tranh chấp có thể hòa giải được khởi kiện tại Tòa án, với sự hỗ trợ của Hòa giải viên. Trong phạm vi hòa giải gắn với Tòa án, trên thế giới không có một định nghĩa chung giải thích thế nào là “gắn với Tòa án” về mức độ hoặc loại Tòa án tham gia. Về vấn đề này, khi xem xét mối quan hệ giữa thủ tục tố tụng tại Tòa án và hòa giải, có thể phân thành ba loại hòa giải:

(1) Hòa giải tư (Private Mediation) hoàn toàn độc lập với các thủ tục tố tụng, và thường diễn ra mà không liên quan đến bất kỳ thủ tục tố tụng nào của Tòa án; (2) Hòa giải gắn với Tòa án (Court-annnexed Mediation) được khởi xướng bởi Tòa án, nhưng sau đó được tiến hành mà không có sự tham gia của Tòa án; và (3) Hòa giải trong tố tụng (Judicial Mediation) được gắn chặt hơn với Tòa án và hoạt động với tư cách là một tổ chức có trụ sở và nhân sự39.

Nếu phân biệt các loại hòa giải như trên, thì hòa giải gắn với Tòa án của Việt Nam gần giống nhất với hòa giải trong tố tụng (Judicial Mediation), hay còn gọi là hòa giải bởi thẩm phán (Judge-led Settlement). Đây là quá trình, trong đó, thẩm phán nỗ lực hòa giải tranh chấp trước khi đưa vụ án ra xét xử. Cơ chế này thực tế đã thể hiện rõ trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) và Luật Tố tụng hành chính (LTTHC) của Việt Nam. Theo quy định tại Điều 10 BLTTDS: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.” Trong trường hợp này, thẩm phán là người tiến hành hòa giải. Dự thảo Luật hòa giải gắn với Tòa án của Việt Nam dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua vào năm 2020.

Không phải tất cả các quốc gia đều thống nhất định nghĩa về hòa giải gắn với Tòa án và hòa giải trong tố tụng như trên. Tại một số quốc gia, trong hòa giải gắn với Tòa án, các thẩm phán và cán bộ tư pháp tích cực đóng vai trò là Hòa giải viên cho các bên đương sự sau khi đương sự đệ đơn kiện lên Tòa án40. Ở các quốc gia khác, các thẩm phán không tiến hành hòa giải. Trong khi không thể có được định nghĩa thống nhất về hòa giải gắn với Tòa án, điều quan trọng là phải được xác định một cách nhất quán về hòa giải gắn với Tòa án trong một hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định. Trong nỗ lực xác định kinh nghiệm quốc tế tốt nhất về hòa giải và đối thoại gắn với Tòa án, việc đánh giá vai trò khác nhau của Tòa án và thẩm phán trong quá trình hòa giải là cần thiết. Trước khi phân tích đầy đủ các vấn đề liên quan đến hòa giải và đối thoại gắn với Tòa án, chúng tôi sẽ giới thiệu một số mô hình điển hình.

2.2. Một số mô hình hòa giải điển hình

Với châu Á, nhiều quốc gia đã và đang tìm cách xây dựng và thể chế hóa cơ chế hòa giải gắn với Tòa án và ADR khác vào hệ thống pháp luật của họ. Trên bình diện quốc tế, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã xác định nhu cầu về nhiều hình thức giải quyết tranh chấp hơn nữa. Trong khi trọng tài có thể là phương thức ADR được ưa chuộng ở Châu Á, thì hiện nay, hòa giải đang được nhiều quốc gia quan tâm. Hiệp hội Luật gia ASEAN đánh giá phương thức hòa giải, với tư cách là phương thức ADR có thể áp dụng, nếu không nói là khả thi hơn, trong việc giải quyết tranh chấp xuyên biên giới, là phương thức mang bản chất “đồng thuận” như vốn có, “không đối đầu” và “hòa bình” 41. Trong khi ASEAN, giống như EU, có thể tập trung hơn vào giải quyết tranh chấp xuyên biên giới, các nguyên tắc tương tự thường cũng được áp dụng trong các quốc gia.

Tại Malaysia, cơ chế hòa giải gắn với Tòa án gần đây đã được xây dựng, trong đó, các thẩm phán và cán bộ Tòa án năng động đã được sử dụng làm Hòa giải viên42. Một trong những mục tiêu chính của cơ chế này là để giảm tồn đọng án quá hạn. Gần đây, Malaysia cũng đã thành lập Trung tâm Hòa giải gắn với Tòa án Kuala Lumpur. Trước đây, các vụ việc được các thẩm phán tiến hành hòa giải thì hiện nay, các vụ việc này do Trung tâm Hòa giải này tiến hành hòa giải. Trung tâm không thu phí hòa giải và nguyên tắc chung là thẩm phán giải quyết vụ việc không đồng thời là thẩm phán tiến hành hòa giải vụ việc đó, trừ trường hợp các bên tranh chấp đồng ý. Nếu các bên không đồng ý, thẩm phán xét xử vụ việc sẽ chuyển vụ việc cho một thẩm phán khác tiến hành hòa giải. 

Ngoài hòa giải, thẩm phán nói chung phải khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp của họ bằng ADR ở giai đoạn trước khi xét xử hoặc tại bất kỳ giai đoạn xét xử nào, ngay cả khi Tòa án đã mở phiên tòa. Một trong những vấn đề gây tranh cãi lớn trong cơ chế này là liệu các thẩm phán có thể tiến hành hòa giải các vụ án do họ tiến hành xét xử hay không, mặc dù điều này thường chỉ được tiến hành trong trường hợp đặc biệt43Tại Malaysia, hòa giải gắn liền với Tòa án tồn tại song song với một hệ thống hòa giải tư (Trung tâm hòa giải Malaysia). Nếu các bên tranh chấp đồng ý giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, họ cũng có thể lựa chọn hòa giải bởi một bên thứ ba thay vì cơ chế hòa giải gắn với Tòa án. Trung tâm Hòa giải Malaysia có các Hòa giải viên tư, không có các thẩm phán và cán bộ Tòa án44

Philippin đã thiết lập một cơ chế hòa giải gắn với Tòa án mà không có sự tham gia của Thẩm phán. Theo đó, hòa giải gắn với Tòa án được định nghĩa là một thủ tục trước khi xét xử đối với các vụ việc có thể hòa giải đã khởi kiện tại Tòa án với sự hỗ trợ của một Hòa giải viên do Tòa án Tối cao Philippin công nhận45Trong cơ chế này, các vụ việc được tách khỏi quy trình tố tụng thông thường nhằm mục đích khuyến khích các đương sự tìm giải pháp hòa giải tranh chấp. Với sự thành công của việc thực hiện thí điểm hòa giải gắn với Tòa án vào năm 2001, cơ chế hòa giải gắn với Tòa án được thể chế hóa với sự ra đời của Trung tâm hòa giải Philippin, do Học viện Tư pháp Philippin thành lập và quản lý46. Theo hướng dẫn của Trung tâm hòa giải Philippin, các trung tâm hòa giải đã được thành lập ở nhiều nơi trên cả nước. Gần đây, Tòa án Tối cao Philippin đã đưa ra chương trình được gọi là Chương trình Giải quyết tranh chấp tại Tòa án, đóng vai trò là cấp thứ hai tiến hành hòa giải, không do Hòa giải viên thuộc danh sách của Trung tâm hòa giải Philippin mà do Thẩm phán của các Tòa án sơ thẩm. Trong hòa giải gắn với Tòa án, các bên tranh chấp chỉ có thể chọn một Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của Trung tâm hòa giải Philippin. Sau khi vụ việc được giải quyết, các thỏa thuận giải quyết tranh chấp qua hòa giải được nộp cho thư ký Toà án khu vực để thực thi theo quy định tại Quy tắc ADR đặc biệt47

Hòa giải cũng đã có một vai trò quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp tại Trung Quốc. Các hình thức hòa giải đa dạng bao gồm: i) hòa giải nhân dân, trong đó, quá trình giải quyết tranh chấp dân sự được tiến hành bởi hội đồng hòa giải nhân dân; ii) hòa giải hành chính, được tiến hành bởi các cơ quan hành chính theo yêu cầu của các bên; và iii) hòa giải tại Tòa án, trong đó các thẩm phán đảm nhận hai vai trò là Hòa giải viên và người xét xử trong cùng một tranh chấp và có thể hoán đổi qua lại giữa hai vai trò đó48. Để hòa giải tranh chấp, các Thẩm phán thường gặp gỡ riêng với các bên tranh chấp và có thể đề xuất các phương án giải quyết tranh chấp mà họ cho rằng phù hợp hoặc chỉ ra cho các bên những điểm bất lợi cụ thể đối với yêu cầu khởi kiện hoặc phản tố để giúp các bên đánh giá lại thế mạnh của họ. Nỗ lực hòa giải của thẩm phán để các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp được thực hiện ở bất cứ giai đoạn nào của thủ tục tố tụng dân sự cho dù các bên tranh chấp đã cố gắng hòa giải trước khi khởi kiện. Thông thường, Tòa án mời các bên tham gia phiên hòa giải ở giai đoạn chuẩn bị xét xử. Nếu hòa giải bên ngoài Tòa án không thành, Tòa án sẽ cố gắng hòa giải một lần nữa theo ý chí tự nguyện của các bên trước khi đưa ra phán quyết. Một tranh chấp có thể được Tòa án hòa giải ở bất kỳ cấp xét xử nào, sơ thẩm, phúc thẩm hay giám đốc thẩm49

Các hình thức hòa giải khác nhau cũng được sử dụng tại Hồng Kông, bao gồm cả hình thức hòa giải gắn với Tòa án50.Chỉ khi các bên tranh chấp khởi kiện tại Tòa án thì mới được tiến hành hòa giải theo cơ chế hòa giải gắn với Tòa án. Nếu các bên đưa tranh chấp ra tòa mà không nỗ lực hòa giải, nhưng sau đó họ mong muốn hòa giải thì Tòa án chuyển vụ việc sang hòa giải. Hòa giải viên là một bên thứ ba độc lập hoặc Hòa giải viên cộng đồng không liên quan đến tranh chấp.

Thẩm phán xét xử vụ tranh chấp không thực hiện vai trò Hòa giải viên. Như trong nhiều hệ thống khác, các bên tranh chấp ở Hồng Kông được khuyến khích mạnh mẽ để cố gắng hòa giải. Nếu các bên đồng ý hòa giải, họ được yêu cầu kết nối quy trình hòa giải bằng cách gửi và trả lời thông báo về hòa giải cho nhau. Giống như hòa giải tư, các chi phí hòa giải tại Tòa án do các bên trả và các bên tranh chấp được phép chọn Hòa giải viên51

Tại Nhật Bản52, chế độ điều đình dân sự tại Tòa án theo quy định tại Luật Điều đình dân sự năm 1951, sửa đổi năm 1974, 1999 và 2011, theo đó điều đình là hoạt động giải quyết tranh chấp giữa các đương sự qua trung gian là Ủy ban điều đình của Tòa án. Điều đình có mục đích giải quyết các tranh chấp phù hợp với đạo lý, sát với thực tế, thông qua sự thỏa thuận, nhượng bộ lẫn nhau giữa các bên đương sự53, là cơ hội cho phép các đương sự có thể giải quyết tranh chấp theo cách hai bên đều thắng.

Đặc điểm của chế định điều đình đó là: (1) giải quyết tranh chấp nhanh chóng với thủ tục đơn giản, chi phí ít hơn so với tố tụng; (2) có sự tham gia của người dân làm Ủy viên điều đình; (3) việc điều đình được thực hiện bởi Ủy ban điều đình mà Thẩm phán cũng là thành viên; (4) thủ tục không công khai; (5) giải quyết thỏa đáng, mềm dẻo, hợp với thực trạng; (5) biên bản điều đình có hiệu lực giống như bản án và được cưỡng chế thi hành án.

Trên cơ sở danh sách đề cử của Ủy ban nhân dân địa phương, hội Luật sư địa phương hoặc một số trường hợp tự xin ứng cử làm Ủy viên điều đình, Tòa án nhân dân tối cao xem xét bổ nhiệm Ủy viên điều đình. Ủy viên điều đình được lựa chọn từ những người có tiêu chuẩn như công bằng chính đáng, có lối suy nghĩ mềm dẻo, hài hòa, gắn kết được con người với nhau, nhân cách tốt, kiến thức sâu rộng, kinh nghiệm chuyên môn hữu ích trong việc giải quyết tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp quan hệ gia đình, kinh nghiệm phong phú trong đời sống xã hội, cụ thể là các luật sư, bác sỹ, giáo sư đại học, kỹ sư, kiến trúc sư, kế toán ngân hàng, giám định viên bất động sản, công chức về hưu, những người dân thường… Độ tuổi của Ủy viên điều đình từ 40 tuổi đến 70 tuổi. Chưa có quy định cụ thể về vấn đề quốc tịch của Ủy viên điều đình, tuy nhiên hiện nay các Ủy viên điều đình dân sự đều được bổ nhiệm từ những người có quốc tịch Nhật Bản. Nhiệm kỳ của Ủy viên điều đình là 03 năm và có thể được tái bổ nhiệm, việc bãi nhiệm Ủy viên điều đình do Tòa án tối cao thực hiện. Về cơ bản công việc của Ủy viên điều đình có yếu tố mang tính chất tình nguyện; có chế độ tuyên dương đối với những Ủy viên điều đình công tác trong nhiều năm.

Ủy viên điều đình được coi là công chức nhà nước bán thời gian trong thời gian giải quyết vụ việc (công chức hợp đồng). Tùy thuộc từng vụ việc cụ thể mà lựa chọn Ủy viên điều đình phù hợp với chuyên môn, lĩnh vực điều đình (ví dụ: điều đình về tín dụng thì chọn kế toán ngân hàng; vụ việc về cho thuê bất động sản thì chọn giám định viên bất động sản; vụ việc về công trình xây dựng thì chọn kiến trúc sư; vụ việc y tế thì chọn bác sĩ…).

Đối với điều đình các quan hệ gia đình thì có sự cân nhắc để chỉ định 01 nam, 01 nữ làm Ủy viên điều đình, nhiều trường hợp Ủy viên điều đình bao gồm cán bộ phúc lợi xã hội, những bà nội trợ trong gia đình… Trong điều đình các quan hệ gia đình còn có sự tham gia của điều tra viên Tòa án gia đình, người sẽ điều tra nguyên nhân của tranh chấp, bối cảnh vụ việc, mối quan hệ giữa các bên.

Điều đình bao gồm điều đình thực hiện tại Tòa án và điều đình thực hiện tại cơ quan bên ngoài Tòa án, cụ thể: Điều đình thực hiện tại Tòa án, bao gồm điều đình dân sự theo Luật Điều đình dân sự và điều đình quan hệ gia đình theo Luật Thủ tục vụ việc quan hệ gia đình. Điều đình thực hiện bên ngoài Tòa án, bao gồm điều đình do Ủy ban lao động về các tranh chấp giữa công đoàn lao động với chủ sử dụng lao động (Điều 20 Luật Công đoàn lao động) hay điều đình do Ủy ban điều phối tranh chấp về môi trường về các tranh chấp liên quan đến ô nhiễm công nghiệp (Điều 31 Luật xử lý tranh chấp ô nhiễm công nghiệp v.v...). Ủy ban điều đình gồm 01 Thẩm phán và 02 Ủy viên điều đình.

Tại Tòa án bố trí rất nhiều phòng điều đình (Tòa gia đình Tokyo có 84 phòng điều đình) có trang bị bàn tròn, tường được sơn sáng màu để tạo cảm giác thân thiện, thoải mái; phòng điều đình được trang trí tranh phong cảnh (đương sự sẽ ngồi đối diện với bức tranh nhằm giảm các áp lực, căng thẳng cho đôi bên đương sự), có đồng hồ treo tường (Ủy viên điều đình ngồi đối diện với đồng hồ để có thể kiểm soát về mặt thời gian). Tại Tòa gia đình ngoài các phòng điều đình còn bố trí phòng trẻ em (có đồ chơi) để cha (mẹ) (người đang không ở cùng với con cái) có không gian tiếp xúc với con mình.

Hàn Quốc54 thực hiện cả “chế định hòa giải phụ thuộc vào Tòa án” và chế định hòa giải liên kết ngoài Tòa án (ADR phụ thuộc vào Tòa án – được tiến hành trong Tòa án và ADR liên kết ngoài Tòa án - được tiến hành bên ngoài Tòa án thông qua Tòa án). Chế định hòa giải không được quy định trong Luật Tố tụng dân sự mà được quy định trong Luật Hòa giải tư pháp tranh chấp dân sự (Luật HGTPTCDS) thi hành từ ngày 01-9-1990 (được sửa đổi bởi luật khác, hiện nay được thực hiện theo Luật số 13952 ngày 03-02-2016, có hiệu lực từ 04-02-2017) và Luật Tố tụng hôn nhân và gia đình được ban hành ngày 31-12-199055. Luật HGTPTCDS quy định rõ mục đích của Luật này là giải quyết tranh chấp dân sự theo một thủ tục đơn giản dựa trên sự nhượng bộ lẫn nhau giữa các bên, nhận thức chung và bối cảnh thực tế. Tất cả các vụ án tranh chấp có liên quan đến dân sự (tất cả các vụ án có giá trị tranh chấp nhỏ, vụ án thuộc thẩm quyền của Hội đồng một Thẩm phán và vụ án thuộc thẩm quyền của Hội đồng ba Thẩm phán) đều có thể tiến hành hòa giải (Điều 1 và Điều 2).

Hàn Quốc có hai loại vụ án được tiến hành hòa giải là: vụ án do các bên tranh chấp yêu cầu hòa giải và Vụ án mà Hội đồng xét xử quyết định đưa ra hòa giải nếu thấy cần thiết.

Đối với vụ án yêu cầu hòa giải, khi vụ án được tiếp nhận, Thẩm phán phụ trách hòa giải phân loại vụ án theo nội dung của vụ án rồi phân loại vụ việc hòa giải mà bản thân trực tiếp giải quyết và vụ án Hòa giải viên thường trực giải quyết. Vụ án Thẩm phán phụ trách hòa giải trực tiếp giải quyết được phân loại thành các vụ án sau rồi giải quyết: (1) vụ án Thẩm phán phụ trách hòa giải trực tiếp tiến hành thủ tục hòa giải, (2) vụ án ban hòa giải tiến hành thủ tục hòa giải, (3) vụ án theo phương thức tiến hành hòa giải bởi 01 Hòa giải viên, (4) vụ án tiến hành bằng hòa giải của các cơ quan giải quyết tranh chấp bên ngoài.

Vụ án mà Hội đồng xét xử nếu thấy cần thiết quyết định đưa ra hòa giải trong quá trình giải quyết rồi tiến hành thủ tục hòa giải gọi là vụ án được đưa ra hòa giải. Quyết định của Hội đồng xét xử không cần có sự đồng ý của đương sự (Điều 6 Luật HGTPTCDS). Đây cũng là quy định khuyến khích, tạo cơ hội để được hòa giải, nhờ đó mà số vụ việc hòa giải tăng mạnh. Không có quy định, tiêu chuẩn, nguyên tắc nào để lựa chọn vụ án đưa ra hòa giải. Các yếu tố thường được xem xét, đánh giá như tỷ lệ hòa giải thành loại hình vụ án, nội dung vụ án, ý chí của đương sự, mối quan hệ giữa các đương sự… Thống kê cho thấy, ở Hàn Quốc, trong những loại hình vụ án thì hòa giải đối với những vụ án liên quan đến cho thuê, vụ án bồi thường thiệt hại liên quan đến tai nạn giao thông có tỷ lệ hòa giải thành cao. Về mặt nội dung vụ án, vụ án có tiền lệ được tạo lập liên quan đến các vấn đề của vụ án, vụ án không cần xem xét thêm do không có tranh cãi về tình tiết của vụ án đều phù hợp với hòa giải. Về mặt quan hệ giữa các đương sự, vụ án tranh chấp trong gia đình, giữa những người có quan hệ lâu dài hoặc có quan hệ phải tiếp tục thực hiện giao dịch trong tương lai phù hợp với hòa giải. Đối với những vụ án có ý nghĩa tạo ra tiền lệ, phải tạo tiền lệ một cách nhanh chóng thông qua xét xử mà không tiến hành hòa giải. Bởi vì chỉ như vậy, Tòa án mới có thể tiến hành hòa giải đối với những vụ án khác theo tiền lệ đó.

Đa phần các vụ việc hòa giải đều là vụ án được đưa ra hòa giải (Năm 2017, số vụ án quyết định đưa ra hòa giải là 44.734 vụ án, chiếm tỷ lệ 86,5% tổng số vụ được hòa giải, tỷ lệ hòa giải thành đối với vụ án yêu cầu hòa giải và vụ án quyết định đưa ra hòa giải là như nhau, trên 30%). Hàn Quốc áp dụng nguyên tắc bắt buộc phải hòa giải trước khi khởi kiện đối với vụ án hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, khi nguyên đơn chưa qua trình tự, thủ tục hòa giải mà khởi kiện vụ án ly hôn thì Tòa án không bác đơn khởi kiện ngay lập tức và đưa vụ án ra hòa giải. Khi Hội đồng xét xử đưa vụ án ra hòa giải, Hội đồng xét xử có thể trực tiếp giải quyết hòa giải vụ án đó hoặc giao vụ án cho Thẩm phán phụ trách hòa giải (khoản 3 Điều 7 Luật HGTPTCDS). Hội đồng xét xử trực tiếp tiến hành thủ tục hòa giải hoặc lập ban hòa giải tiến hành hòa giải. Vụ án được giao cho Thẩm phán phụ trách hòa giải được giải quyết theo phương thức tương tự với vụ án yêu cầu hòa giải.

Tại Ấn Độ56, vào năm 1999, Ấn Độ đã sửa đổi Điều 89 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 1907. Tại Điều 89 và Lệnh X Quy tắc 1A Bộ luật Tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án lựa chọn một trong năm hình thức giải quyết tranh chấp lựa chọn và chuyển vụ việc sang trọng tài, thương lượng, Tòa án giải quyết, tài phán nhân dân (Lok Adalat) hoặc hòa giải. Hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải hoặc thương lượng được thực hiện theo quy định của Luật Hòa giải và thương lượng 1996. Hình thức tài phán nhân dân được thực hiện theo Luật Dịch vụ pháp lý năm 198757.

Về hòa giải tại Trung tâm hòa giải, đối thoại bên cạnh Tòa án: Năm 2005, Chánh án Tòa án tối cao Ấn Độ quyết định xây dựng dự án hòa giải, thành lập các Trung tâm hòa giải gắn liền với Tòa án. Chánh án của mỗi Tòa án ra quyết định thành lập Trung tâm hòa giải gắn với Tòa án đó. Trên nguyên tắc quy định tại Điều 89 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp cao của từng bang ban hành Bộ quy tắc hòa giải riêng áp dụng cho các Tòa án thuộc bang đó58. Theo số liệu thống kê của Tòa án tối cao Ấn Độ, đến ngày 31-3-2018, trong cả nước nhận được 2.831 vụ việc, hòa giải thành công 731 vụ việc (riêng Tòa án New Delhi tỷ lệ hòa giải thành đạt 67-69%). Hòa giải đã giúp giảm số lượng lớn vụ án phải đưa ra giải quyết bằng tố tụng tại Tòa án. Qua tổng kết thực tiễn tại Ấn Độ, có một số loại tranh chấp dễ hòa giải thành là tranh chấp về hợp đồng, hôn nhân và gia đình, yêu cầu bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông, tranh chấp về cung ứng dịch vụ… Thực tiễn cũng cho thấy, những Hòa giải viên được đào tạo và bồi dưỡng tốt về kỹ năng hòa giải sẽ hòa giải thành được nhiều vụ việc59.

Chánh án của mỗi Tòa án ra quyết định thành lập trung tâm hòa giải gắn liền với Tòa án đó. Kinh phí hoạt động của Trung tâm do Chính phủ cấp qua Tòa án nơi trung tâm được thành lập. Trung tâm có con dấu riêng và hoạt động độc lập về chuyên môn. Tính đến tháng 5-2018, Ấn Độ có 577 Trung tâm hòa giải gắn liền với Tòa án và 85 trung tâm khác đang tiến hành thành lập. Điển hình là Tòa án cấp cao New Delhi thành lập Trung tâm hòa giải gắn liền với Tòa án do Hội đồng điều hành lãnh đạo, bao gồm 04 Thẩm phán và 04 Luật sư quyết định các vấn đề chính sách; các Hòa giải viên tiến hành hòa giải60.

Tòa án tối cao Ấn Độ thành lập Ủy ban hòa giải để làm đầu mối về hòa giải như soạn thảo Sổ tay hướng dẫn, ban hành bộ quy tắc chung và các tài liệu liên quan, tổ chức tập huấn, khảo sát thực tế…61

Các Hòa giải viên được tuyển chọn từ nguồn các Thẩm phán đã nghỉ hưu, Luật sư, các chuyên gia pháp luật, chuyên gia về các lĩnh vực chuyên ngành (chẳng hạn tại Tòa án cấp cao Delhi thì Hòa giải viên là các Thẩm phán đã nghỉ hưu, người hành nghề luật hoặc chuyên gia có ít nhất 10 năm kinh nghiệm62).

Công tác đào tạo kỹ năng cho Hòa giải viên rất được chú trọng ở Ấn Độ với nhiều chương trình đào tạo bồi dưỡng Hòa giải viên chuyên nghiệp. Hòa giải viên được đào tạo để nắm rõ quy trình, thủ tục hòa giải, các kỹ năng hòa giải63.

Sau khi nhận vụ việc, Thẩm phán sẽ quyết định là đưa vụ việc ra hòa giải hay các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn khác. Đối với vụ việc đưa ra hòa giải, các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn Hòa giải viên, có thể là các Hòa giải viên không thuộc Trung tâm hòa giải. Trong trường hợp các bên không thống nhất được việc lựa chọn Hòa giải viên, Tòa án sẽ chỉ định Hòa giải viên mà Tòa án thấy thích hợp64.

Khi hòa giải thành, Tòa án phải ấn định ngày xem xét, công nhận kết quả hòa giải trong thời hạn 07 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không quá 14 ngày, kể từ ngày nhận được thỏa thuận giải quyết. Trong ngày xem xét đó, nếu Tòa án thấy rằng các bên đã giải quyết tranh chấp của họ, Tòa án phải ban hành quyết định công nhận hòa giải. Nếu thỏa thuận giải quyết chỉ giải quyết một số vấn đề phát sinh trong vụ án hoặc thủ tục tố tụng, Tòa án phải tiếp tục quyết định những vấn đề còn lại65.

Ở châu Âu, hầu hết quốc gia đã sử dụng kết hợp cả các phương thức ADR/hòa giải truyền thống và mới. Nhiều quốc gia châu Âu đã tiến hành cải cách trong những năm gần đây, bao gồm mở rộng hoặc thí điểm với nhiều hình thức hòa giải gắn với Tòa án khác nhau. Một trong những động thái đầu tiên trong các cải cách này là Chỉ thị số 52/2008 của Hội đồng Nghị viện Châu Âu ngày 21-5-2008 về một số khía cạnh của hòa giải trong các vấn đề dân sự và thương mại (Chỉ thị EC). Chỉ thị EC khuyến khích việc sử dụng hòa giải tại các nước thành viên, với mục đích chung “để tạo điều kiện tiếp cận với ADR và để thúc đẩy các phương thức giải quyết tranh chấp thân thiện bằng cách khuyến khích việc sử dụng hòa giải và bằng cách đảm bảo một mối quan hệ cân bằng giữa hòa giải và thủ tục tố tụng66Khuyến khích hòa giải cũng đồng nghĩa với sự nới lỏng khuôn khổ, cho phép các nước thành viên có được linh hoạt rộng rãi trong việc thử nghiệm các mô hình của nước mình.  

Hầu như tất cả các quốc gia ở châu Âu đã đổi mới một số hình thức hòa giải, chẳng hạn ở Italia, để khắc phục sự không hiệu quả của cơ chế tố tụng, Chính phủ Italia đã đưa ra nhiều hình thức ADR và ​​hòa giải liên quan đến Tòa án, nghiêm túc thực hiện Chỉ thị EC và đã ban hành một số nghị định tập trung vào chủ đề trung gian và hòa giải trong các lĩnh vực dân sự và thương mại67Việc hòa giải gắn với Tòa án đã trở thành bắt buộc tại Italia khi Thẩm phán quyết định chuyển sang hòa giải bởi một bên thứ ba trung lập đối với một số loại tranh chấp nhất định. Luật quy định rằng những người muốn khởi kiện tranh chấp đối với một số đối tượng (sở hữu chung, thừa kế, thỏa thuận gia đình, thỏa thuận cho thuê, thiệt hại nhất định, v.v.) trước tiên có nghĩa vụ phải tham gia phiên hòa giải bởi một cơ quan hòa giải được Bộ Tư pháp công nhận68Hòa giải cũng có thể bắt buộc khi Thẩm phán mời hoặc yêu cầu các bên tham gia hòa giải hoặc khi được thỏa thuận trong hợp đồng giữa các bên. Khi bắt đầu hòa giải, Hòa giải viên giải thích mục đích và một số quy tắc cho các bên và luật sư của họ, để cùng nhau đánh giá xem có nên giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải hay không. Nếu “bị đơn” không chấp nhận tham gia hòa giải thì có thể phải chịu chế tài của Tòa án.

Tại Italia, dịch vụ hòa giải được cung cấp bởi tổ chức nhà nước hay tư nhân đăng ký với Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp quy định các tiêu chuẩn đối với các tổ chức hòa giải, thủ tục đăng ký, phí hòa giải. Các Thẩm phán cũng được khuyến khích tiến hành hòa giải trong một số vụ việc. Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán chỉ cần xem xét và giải thích cho các bên tranh chấp về khả năng đạt được thỏa thuận mà không đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ các bên đạt sự thỏa thuận. Nếu đạt được thỏa thuận, các bên ký một báo cáo hòa giải trước Thẩm phán và báo cáo tạo thành một “lệnh” bắt buộc69

Tại Phần Lan, những thay đổi gần đây trong quy định của pháp luật bắt buộc các Thẩm phán tiến hành hòa giải trong một số trường hợp nhất định. Vào năm 2006, Luật Hòa giải tại Tòa án Phần Lan có hiệu lực, cũng như các quy định của Luật tố tụng dân sự sửa đổi, đưa ra quy định về hòa giải tại Tòa án theo mô hình thí điểm đã được thực hiện ở Na Uy và Đan Mạch70. Theo quy định này, các bên có thể nộp đơn yêu cầu hòa giải, kèm theo đơn khởi kiện vụ án dân sự thông thường. Tòa án quyết định việc có tiến hành hòa giải hay không. Nếu vụ việc được ngừng để hòa giải, quá trình xét xử của Tòa án bị gián đoạn trong suốt thời gian tiến hành hòa giải. Một Thẩm phán tại Tòa án nơi giải quyết vụ việc sẽ tiến hành hòa giải với tư cách Hòa giải viên71. Để có sự hỗ trợ chuyên môn cần thiết hoặc đẩy nhanh tiến trình hòa giải, Hòa giải viên có thể yêu cầu một Hòa giải viên trợ lý, nhưng việc sử dụng Hòa giải viên trợ lý phải được sự đồng ý của các bên. Các bên chịu các chi phí phát sinh từ hòa giải cũng như các chi phí của Hòa giải viên trợ lý72.Thủ tục hòa giải là không chính thức và vai trò của Hòa giải viên Thẩm phán về cơ bản là việc hỗ trợ các bên giải quyết tranh chấp.

Đức cũng đang trong quá trình thực hiện Chỉ thị của EU về hòa giải, thông qua việc ban hành một đạo luật hòa giải và sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự. Trong mô hình của Đức, hiện có ba loại hòa giải chính: hòa giải chuẩn mực ngoài Tòa án (standard out-of-court mediation), hòa giải ngoài Tòa án theo đề nghị của Tòa án (out-of-court mediation upon proposal by the court) và hòa giải trong tố tụng (mediation in judicial conciliatory proceedings)73.Hai loại hòa giải đầu tiên tương đối đơn giản và phản ánh hòa giải tư nhân và hòa giải được Tòa án đề nghị chuyển vụ việc sang cơ chế khác. Hai loại hòa giải này được điều chỉnh bởi Luật Hòa giải Đức, trong đó không áp đặt những quy tắc cứng nhắc cho thủ tục hòa giải, mặc dù vẫn có những nguyên tắc và nghĩa vụ nhất định74.Loại hòa giải thứ ba - hòa giải trong tố tụng – cung cấp khả năng thực hiện hoặc thực hiện lại các thủ tục hòa giải trước khi Tòa án giải quyết do Tòa án thực hiện vào bất cứ lúc nào trong quá trình tố tụng của Tòa án. Thủ tục hòa giải này được tiến hành bởi một Thẩm phán đóng vai trò là Hòa giải viên tố tụng nhưng không có thẩm quyền đưa ra các quyết định ràng buộc các bên. Thẩm phán tiến hành hòa giải có thể là Thẩm phán tiến hành xét xử vụ việc đó75.

2.3. Các đặc điểm của hòa giải gắn với Tòa án

Nghiên cứu trong Phần 2.2 ở trên cho thấy rằng không có mô hình hòa giải gắn với Tòa án nào ưu việt nhất trên thế giới. Trong thực tế, thậm chí không có một định nghĩa nào chung cho cụm từ “hòa giải gắn với Tòa án”. Có thể khẳng định rằng, bên cạnh việc công nhận một số tiêu chuẩn quốc tế cơ bản liên quan đến hòa giải và đối thoại gắn với Tòa án, chẳng hạn như bảo mật và bình đẳng (được phân tích kỹ hơn dưới đây), các quốc gia không nên bị ràng buộc trong việc áp dụng một mô hình nhất định và nên tham khảo cơ chế phù hợp nhất với tình hình hiện tại của nước mình. Sau đây là các phân tích sâu hơn về một số yếu tố, đặc điểm của hòa giải gắn với Tòa án.

2.3.1. Vai trò của Tòa án và Thẩm phán trong hòa giải gắn với Tòa án

Như đã nhấn mạnh trong các mô hình khác nhau nêu trên đây, các quốc gia có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với vai trò của Tòa án và Thẩm phán liên quan đến việc chỉ định Hòa giải viên. Đối với việc Tòa án lựa chọn Hòa giải viên, một số quốc gia coi đó là trách nhiệm của các Thẩm phán, trong khi một số quốc gia khác coi đó là hoạt động hành chính của Tòa án. Tất nhiên, hầu hết các quốc gia cho các bên lựa chọn cơ chế hòa giải trước khi thụ lý vụ án. Ở Phần Lan, Tòa án quyết định liệu có nên tiến hành hòa giải hay không, và nếu vụ án chưa xét xử cũng là một vấn đề thông thường, quá trình tố tụng của Tòa án bị gián đoạn trong suốt thời gian hòa giải76. Tại Hồng Kông, Thẩm phán có thể quyết định chuyển vụ án sang hòa giải sau khi thụ lý, nếu xác định việc hòa giải là phù hợp77. Ở nhiều quốc gia như Đức, một vụ án có thể được hòa giải kín, Hòa giải viên do Tòa án chỉ đinh hoặc hòa giải bởi Thẩm phán78.

Steffek chỉ ra rằng Hà Lan là một ví dụ điển hình về việc tích hợp cơ chế hòa giải. Các vụ việc đến Tòa án được các Thẩm phán xem xét về sự phù hợp để họ tiến hành hòa giải. Để thực hiện việc này, tất cả các Thẩm phán đã được tập huấn trong một hoặc hai ngày để làm quen với hòa giải. Các Thẩm phán nhận được thông tin cụ thể cần thiết cho từng vụ việc đặc biệt thông qua một câu hỏi ngắn mà các bên nhận được khi bắt đầu thủ tục Tòa án dân sự. Bảng câu hỏi đặt ra các câu hỏi cho các bên gọi là các chỉ số hòa giải. Các chỉ số hòa giải là những sự thật liên quan đến tranh chấp cho biết liệu hòa giải có khả năng thành công hay không và sẽ đưa ra giải pháp tốt hơn cho việc giải quyết tranh chấp so với việc xét xử tại Tòa án. Nếu nhận định vụ việc phù hợp để hòa giải, Tòa án sẽ đưa ra đề xuất cho các bên về việc hòa giải79.

Một vấn đề về vai trò của Tòa án trong việc lựa chọn hòa giải là vai trò thích hợp của các Thẩm phán liên quan đến quá trình hòa giải, liệu Thẩm phán có nên tiến hành hòa giải. Đây là một chủ đề nhận được sự tranh luận sôi nổi ở nhiều quốc gia. Sẽ hữu ích khi chia câu hỏi mang tính chính sách nền tảng thành hai câu hỏi sau: thứ nhất, liệu Thẩm phán có nên tham gia vào toàn bộ quá trình hòa giải; và thứ hai, liệu các Thẩm phán có nên cố gắng hòa giải các vụ việc mà họ chịu trách nhiệm xét xử hay không.

Có nhiều lý do để đặt câu hỏi về vai trò của Thẩm phán với với tư cách là Hòa giải viên. Theo mô hình truyền thống, các Thẩm phán phải áp dụng pháp luật một cách chính thức, đưa ra đánh giá và cuối cùng phán quyết dựa trên quy định của pháp luật. Trái lại, Hòa giải viên tham gia vào việc hỗ trợ và thỏa hiệp về lợi ích của các bên để đạt được sự đồng thuận về giải quyết tranh chấp. Một số quan điểm cho rằng, Hòa giải viên đòi hỏi kỹ năng hoàn toàn khác Thẩm phán và không thể khẳng định rằng một Thẩm phán giỏi sẽ trở thành Hòa giải viên giỏi. Từ quan điểm này, hòa giải là một nghề đặc thù, đòi hỏi đào tạo bài bản, sự công nhận, đánh giá năng lực và tích lũy chuyên môn thường xuyên. Hòa giải khác với xét xử bởi lẽ hòa giải cần nhiều hơn sự điều tra mang tính cá nhân đối với bản chất của tranh chấp và vị thế của các bên. Theo quan điểm này, các kỹ năng tố tụng để xác định các vấn đề pháp lý, áp dụng pháp luật và đi đến một quyết định không có liên quan gì đến hòa giải80

Tuy nhiên một số ý kiến cho rằng cũng không có gì sai nếu Thẩm phán tham gia vào hòa giải. Dù mà chương trình đào tạo Thẩm phán không nhất thiết bao gồm các kỹ năng hòa giải thì cũng không có gì ngăn cản các Thẩm phán, Thẩm phán đã về hưu (hoặc bất cứ ai) học hỏi và phát triển kỹ năng hòa giải và trở thành Hòa giải viên giỏi. Kinh nghiệm cho thấy trong nhiều hệ thống hòa giải gắn với Tòa án, các Hòa giải viên bao gồm cả cựu Thẩm phán hoặc chuyên gia pháp luật và các hệ thống hòa giải này hoạt động khá tốt. Hơn nữa, kinh nghiệm tố tụng được cho là bổ trợ cho các kỹ năng liên quan đến hòa giải và người dân nhìn chung là tôn trọng Thẩm phán81

Nói chung, rất ít người có quan điểm cực đoan rằng các Thẩm phán hoặc cựu thẩm phán không bao giờ được phép làm Hòa giải viên. Nhiều Thẩm phán đã trở thành Hòa giải viên giỏi. Cuộc tranh luận lớn hiện nay là về vấn đề thứ hai - liệu các Thẩm phán có nên tiến hành hòa giải các vụ án mà họ chịu trách nhiệm xét xử hay không. Một câu hỏi quan trọng trong vấn đề này là liệu các Thẩm phán, khi cố gắng hòa giải các vụ việc mà họ chịu trách nhiệm xét xử, thì có thể thống nhất các nguyên tắc hòa giải và xét xử cùng một lúc hay không. Một số người sẽ cho rằng hòa giải tại Tòa án thực sự có sự xung đột văn hóa. Rủi ro ở đây là việc cả hai phương thức xét xử và hòa giải sẽ đều thất bại82. Một số quốc gia có quy định rõ ràng về việc cấm các Thẩm phán xét xử hòa giải các vụ việc mà họ chịu trách nhiệm xét xử, các Thẩm phán hòa giải xét xử vụ án họ đã hòa giải khi hòa giải không thành. Một trong những lý do chính được đưa ra cho việc cấm này là các Thẩm phán xét xử mà làm Hòa giải viên có thể bị định kiến ​​hoặc có những quan niệm trước về các sự kiện hoặc chứng cứ mà họ có trong phiên hòa giải dẫn đến có thể ảnh hưởng đến việc đưa ra phán quyết.

Mặt khác, cũng từ kinh nghiệm các nước nêu ở trên, chúng ta thấy rằng hệ thống tố tụng của Phần Lan không ngăn cấm Thẩm phán tiến hành hòa giải các vụ việc mà họ chịu trách nhiệm xét xử. Trên thực tế, trong hệ thống này, chỉ có Thẩm phán tiến hành hòa giải gắn với Tòa án. Khi hệ thống hòa giải này mới ra đời, không phải là không có tranh cãi trong Quốc hội Phần Lan, nhưng cuối cùng, Quốc hội đã quyết định không tách các chức năng hòa giải và xét xử. Một số lý giải về lợi thế của việc Thẩm phán tiến hành hòa giải là sự độc lập và vô tư của các Tòa án, cũng như sự tin tưởng vào Thẩm phán. Một lợi thế khác là kết quả hòa giải thành do Thẩm phán tiến hành có giá trị ràng buộc các bên và có hiệu lực ngay.

2.3.2. Thương lượng và trung gian trong tố tụng (Judicial Conciliation and Settlement) trong mối tương quan với hòa giải gắn với Tòa án  

Cần phân biệt giữa hòa giải gắn với Tòa án với thương lượng và trung gian trong tố tụng. Bất kể quan điểm nào liên quan đến vai trò của Thẩm phán trong hòa giải, thì cũng không loại trừ khả năng có thể có trung gian hoặc thương lượng trong tố tụng khi mà thủ tục tố tụng dân sự hoặc hành chính đã bắt đầu. Chẳng hạn, một số quốc gia không cho phép tiến hành hòa giải trong tố tụng nhưng lại chấp nhận hình thức trung gian hoặc thương lượng trong tố tụng. Ở đây, khó phân biệt hai thuật ngữ trung gian và hòa giải, hai thuật ngữ này thực sự có thể trùng nhau. Nói chung, “trung gian” (conciliation) là một quy trình mà bên thứ ba trung lập giúp các bên tranh chấp bằng cách chủ trì cuộc thương lượng của họ và hướng dẫn họ hướng tới một thỏa thuận thỏa đáng83, trong khi ở hòa giải (mediation) thì các bên nắm quyền chủ động hơn. Trong khi đó, “thương lượng” (settlement) là do các bên tự đạt được thỏa thuận, có thể có hoặc không có bên thứ ba đóng vai trò như Thẩm phán và vai trò “như Thẩm phán” này không được xác định rõ ràng. 

Bản chất của ý tưởng giải quyết tranh chấp bằng thương lượng là các bên nên cố gắng đi đến thỏa thuận và giải quyết tranh chấp bất cứ lúc nào trước khi Tòa án xét xử. Các bên có thể đi đến một thỏa thuận, chỉ giữa các bên hoặc bằng công nhận của Thẩm phán giải quyết vụ việc. Đây là lợi thế của phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, như không phải vào sổ thụ lý và tránh các chi phí tố tụng, đồng thời tránh được những tranh luận về hòa giải gắn với Tòa án như đã nêu ở trên. Trong thương lượng, Thẩm phán không thực hiện vai trò của Hòa giải viên, mà chỉ đơn giản là đưa các bên “ngồi lại với nhau” để xác định xem có thực sự cần thiết phải đưa ra xét xử hay không. Thương lượng được khuyến khích mạnh mẽ tại nhiều quốc gia. Chẳng hạn,văn hóa pháp lý và tố tụng ở Hoa Kỳ, thường được cho là linh hoạt và không khuôn mẫu về các vấn đề này. Trong hầu hết các cơ quan tài phán Hoa Kỳ, các vụ việc có thể được giải quyết bằng những cách thức đa dạng khác nhau, kể cả bởi các luật sư, ngay từ đầu vụ kiện, và trước khi có sự can thiệp của cơ quan hành tư pháp; hoặc bằng sự giải quyết của cá nhân Thẩm phán, thông qua việc tham vấn với các bên và luật sư của họ. Khác với hòa giải, Thẩm phán trong quá trình tham vấn thường sẽ có một cuộc thảo luận về khả năng thành công hay thất bại dựa trên các tình tiết của vụ án. Việc xác định một quy trình này là thương lượng hay trung gian trở nên ít quan trọng hơn việc đạt được mục tiêu về một thỏa thuận giải quyết tranh chấp.

Thương lượng hoặc trung gian cũng được khuyến khích trong cơ quan tư pháp của các nước theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa. Trở lại trường hợp của Italia, chúng ta thấy rằng, trong quá trình tố tụng, các Thẩm phán được kêu gọi khuyến khích các bên sử dụng phương thức trung gian. Khi tiến hành trung gian cho các bên, Thẩm phán chỉ cần thẩm tra và giải thích cho các bên khả năng đạt được thỏa thuận, mà không đóng vai trò tích cực trong việc đạt đến thỏa thuận của các bên. Nếu đạt được thỏa thuận, các bên ký một báo cáo hòa giải trước Thẩm phán và báo cáo này trở thành một “lệnh” bắt buộc. Trên thực tế, Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành của Italia quy định rằng, để ngăn ngừa việc các bên nộp đơn từ chối việc xét xử chỉ dựa trên việc Thẩm phán đã đưa ra đề nghị thương lượng hoặc trung gian, đề nghị của Thẩm phán không thể tạo thành căn cứ cho sự từ chối của các bên. Bộ luật tố tụng dân sự làm rõ vai trò kép của Thẩm phán: Thẩm phán có thể đưa ra đề nghị về thương lượng hoặc trung gian (tương tự như vai trò một Hòa giải viên trong quy trình hòa giải, sẽ được nêu sau đây), nhưng trong trường hợp các bên từ chối đề nghị này, Thẩm phán vẫn có quyền đưa ra quyết định về tranh chấp84.

2.3.3. Tiêu chuẩn và tuyển chọn Hòa giải viên  

Tạm thời không bàn về vai trò của Thẩm phán trong hòa giải hoặc phương thức ADR khác, trong việc xây dựng hệ thống hòa giải gắn với Tòa án, một vấn đề cần xác định là ai được tiến hành hòa giải và họ cần năng lực gì. Thông thường các hệ thống hòa giải gắn với Tòa án tín nhiệm các Thẩm phán đã về hưu và các chuyên gia pháp lý khác tham gia làm Hòa giải viên, nhưng nhiều hệ thống rất linh hoạt, đã mở rộng ra một loạt các chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác cũng có thể làm Hòa giải viên. Xét về tiêu chuẩn, mô hình hòa giải gắn với Tòa án của hầu hết các nước xem xét các yếu tố như: trình độ học vấn, đào tạo bước đầu, phát triển nghề nghiệp liên tục và kinh nghiệm liên quan.. Trong việc xây dựng hệ thống hòa giải, các quốc gia cũng phải xem xét về việc xây dựng cơ chế tuyển chọn và duy trì đội ngũ Hòa giải viên có chất lượng. Nếu có một hệ thống danh sách, thì việc lựa chọn và bổ nhiệm các Hòa giải viên thường sẽ được thực hiện một cách ngẫu nhiên (bảng phân công), hoặc luân phiên. Tuy nhiên, một số Tòa án có thể có danh sách Hòa giải viên ưu tiên, dựa trên kinh nghiệm trước đó tại Tòa án đó hoặc tại các Tòa án khác, hoặc dựa trên trình độ của Hòa giải viên.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Hòa giải viên cần một số tiêu chuẩn cơ bản. Tại Hoa Kỳ, tùy từng Bang khác nhau, nhưng nhiều Bang yêu cầu Tòa án chỉ định Hòa giải viên đã đáp ứng số giờ đào tạo theo quy định. Để đưa vào danh sách Hòa giải viên, một Bang cũng có thể yêu cầu Hòa giải viên phải đã tiến hành một số cuộc hòa giải tư. Yêu cầu về trình độ học vấn là khác nhau giữa các Bang. Bằng cấp về luật thường không bắt buộc đối với Hòa giải viên, nhưng họ phải tốt nghiệp đại học. Về các vấn đề tranh chấp liên quan tới Luật Gia đình thì bằng cấp trong một lĩnh vực cụ thể như tâm lý học, công tác xã hội hoặc tư vấn là yêu cầu bắt buộc đối với Hòa giải viên. Ở Đức, Đạo luật Hòa giải Đức chỉ đưa ra các hướng dẫn chung. Theo Đạo luật này, Hòa giải viên là những người độc lập và vô tư, không có quyền ra quyết định, họ hướng dẫn các bên liên quan theo thủ tục hòa giải. Tiếp cận với công việc hòa giải là không bị hạn chế. Theo quy định, các Hòa giải viên được đào tạo về kiến ​​thức và thủ tục cơ bản và bất kỳ người nào được đào tạo cơ bản đều có thể trở thành Hòa giải viên.85 Trong khi đó,  Italia quy định chi tiết hơn. Một Hòa giải viên phải có bằng cấp tốt nghiệp tương đương ít nhất với hệ đại học 03 năm; hoặc là một thành viên của một hiệp hội hoặc tổ chức nghề nghiệp và đã hoàn thành ít nhất khóa học bồi dưỡng hai năm bởi tổ chức được Bộ Tư pháp cấp phép đào tạo. Trong khóa đào tạo hai năm đó, họ phải tham gia thực tập tiến hành hòa giải ít nhất 20 vụ việc86

Trong phạm vi nhất định, có thể lĩnh hội những kinh nghiệm quý về cơ chế hòa giải gắn với Tòa án, như một số tiêu chuẩn cơ bản về Hòa giải viên, nhưng không hạn chế trong phạm vi quá hẹp, cho phép sự linh hoạt trong việc xác định kinh nghiệm nghề nghiệp. Một tiêu chuẩn chung chung như bằng cử nhân trong một lĩnh vực có liên quan (như công tác xã hội, tâm lý học, tư vấn, luật, v.v.) là phổ biến. Có thể yêu cầu về việc tham gia một số khóa đào tạo về hòa giải nhưng loại hình và chất lượng đào tạo của việc đào tạo đó tùy thuộc vào thể chế trong mỗi quốc gia và những nguồn lực cung cấp cho các khóa đào tạo đó.

2.3.4. Các vấn đề về thủ tục hòa giải và quản lý hành chính  

Có một loạt các vấn đề về thủ tục và hành chính cần phải được xem xét khi xây dựng một hệ thống hòa giải gắn với Tòa án, bao gồm: mức độ chi tiết của thủ tục hòa giải cần phải điều chỉnh; việc tạm dừng các thủ tục dân sự và hành chính để tiến hành hòa giải và sự ảnh hưởng đến thời hiệu; việc công nhận và thi hành các quyết định hòa giải; và phí hòa giải.

(1) Đặc điểm của thủ tục hòa giải

Hòa giải về bản chất là linh hoạt và không chính thức, do đó, không nên có các quy định pháp luật về thủ tục hòa giải cứng nhắc. Tuy nhiên, cần lưu ý việc xác định một số bước cơ bản của thủ tục hòa giải. Nhiều nước đã xác định các bước hòa giải cơ bản như sau: 1) chuẩn bị; 2) bắt đầu thủ tục; 3) xem xét vụ việc; 4) thương lượng; và 5) thống nhất thỏa thuận87Mức độ quy định về các bước này được xác định tùy theo luật pháp hoặc quy định khác nhau của mỗi quốc gia. Các quốc gia càng khuyến khích hòa giải thì càng ít đặt ra yêu cầu chi tiết. Thời hạn hòa giải có thể khác nhau giữa các nước và tùy loại vụ việc. Trong các vụ việc được đưa ra Tòa án, Thẩm phán (hoặc Tòa án) thường muốn đưa ra thời hạn. Việc xác định thời hạn có thể được quy định trong luật, các quy tắc của Tòa án hoặc các quyết định của Thẩm phán trong từng trường hợp cụ thể. Vì các phiên hòa giải thường khá ngắn, chỉ mất vài giờ, toàn bộ quá trình từ khi bắt đầu đến khi giải quyết có thể được hoàn thành trong vòng một tháng, trừ khi Tòa án đang tồn đọng án.

Liên quan đến việc xác định các thủ tục, điều đáng chú ý là có các cách tiếp cận hay các loại hình hòa giải khác nhau. Những khác biệt này có thể có tác động đến tính công bằng và bảo mật, và chúng có thể là chủ đề cho việc đào tạo về hòa giải, nhưng có lẽ không cần thiết phải chỉ rõ các phương pháp này trong các thủ tục. Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra ba cách tiếp cận khác nhau về hòa giải, bao gồm: hỗ trợ (facilitative), nhận định (evaluative) và chuyển hóa (transformative). Trong hòa giải hỗ trợ, Hòa giải viên tiến hành quy trình để hỗ trợ các bên đạt được một giải pháp đồng thuận giữa các bên. Hòa giải viên hỗ trợ không đưa ra khuyến nghị cho các bên. Hòa giải nhận định là một quá trình được mô phỏng theo các phiên thương lượng do các Thẩm phán tổ chức. Hòa giải viên nhận định sẽ giúp các bên đạt được thỏa thuận bằng cách chỉ ra những điểm yếu trong vụ kiện của họ và dự đoán những gì một Thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn sẽ làm. Hòa giải viên nhận định có thể đưa ra các khuyến nghị chính thức hoặc không chính thức cho các bên về cách giải quyết tranh chấp. Hòa giải viên nhận định quan tâm đến các quyền hợp pháp của các bên hơn là nhu cầu và lợi ích của các bên và đánh giá dựa trên các khái niệm pháp lý về sự công bằng. Do đó hòa giải nhận định có một số trùng lắp với hình thức trung gian. Hòa giải chuyển đổi dựa trên các giá trị "quyền lực" của mỗi bên một cách tốt đa và sự "công hóa" bởi mỗi bên đối với các nhu cầu, lợi ích, giá trị và quan điểm của bên kia88.

(2) Đình chỉ, khôi phục và hoàn thành thủ tục tố tụng của Tòa án

Một số nội dung quan trọng khác liên quan đến thủ tục hòa giải bao gồm: cách thức đình chỉ thủ tục tố tụng của Tòa án, tác động của việc đình chỉ đối với thời hiệu  và cách các vụ việc được đưa xét xử trở lại tại Tòa án. Những vấn đề này thường không có nhiều vướng mắc, nhưng luật cần phải rõ ràng và chi tiết. Ví dụ, Tòa án phải chủ động tính mốc thời gian ngắt quãng tố tụng khi chuyển vụ việc sang hòa giải. Ngoài ra, khi các bên đồng ý hòa giải thì điều này phải không làm mất quyền khởi kiện của các bên sau này. Việc đưa một điều luật như trong pháp luật Malaysia có thể là hữu ích: “hòa giải theo Đạo luật này không ngăn cản quyền khởi kiện vụ việc dân sự tại Tòa án hoặc trọng tài và cũng không ảnh hưởng đến việc hoãn hoặc thi hành bất kỳ thủ tục tố tụng nào, nếu thủ tục tố tụng đã bắt đầu 89. Luật pháp cũng phải quy định rõ ràng về thời điểm cách thức hòa giải thành hay không thành, và vụ kiện sẽ được tiếp tục giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Tòa án như thế nào nếu cần thiết. Mô hình Phần Lan là một ví dụ minh họa, trong đó quy định rằng hòa giải được hoàn thành khi “(1) một thỏa thuận thành giữa các bên được xác nhân hoặc các bên thông báo cho Hòa giải viên về việc tranh chấp đã được giải quyết bằng phương thức khác, (2) một bên thông báo tới Hòa giải viên rằng họ không còn muốn hòa giải nữa, hoặc (3) Hòa giải viên quyết định, sau khi đã xem xét vụ việc giữa các bên, rằng việc tiếp tục hòa giải không thể thực hiện được nữa. Nếu vụ việc đang bị tạm ngừng thì vụ việc sẽ chấm dứt dựa trên xác nhận về thỏa thuận hòa giải thành giữa các bên. Nếu chỉ thương lượng được một phần tranh chấp, phần còn lại được đưa ra xét xử90.

(3) Công nhận và thi hành các thỏa thuận hòa giải

Lẽ dĩ nhiên cần phải có các quy định về việc công nhận và thi hành kết quả hòa giải, đối thoại gắn với Tòa án. Kinh nghiệm quốc tế tốt nhất chỉ ra rằng: các thỏa thuận hòa giải và đối thoại phải được công nhận và thi hành, trừ trường hợp ngoại lệ, như thiếu năng lực và bất hợp pháp. Về nguyên tắc, việc công nhận và thi hành của hòa giải gắn với Tòa án thậm chí còn đơn giản hơn đối với phương thức hòa giải ngoài Tòa án, vì vụ việc đã được khởi kiện ra Tòa án. Tiêu chuẩn này được nêu rõ trong Chỉ thị của EU: các quốc gia thành viên phải “đảm bảo rằng các bên hoặc một trong các bên với sự đồng ý rõ ràng của các bên khác, có thể yêu cầu thực thi nội dung thỏa thuận bằng văn bản do Hòa giải viên lập91 Cách thức thực thi khác nhau tùy thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia thành viên. Các trường hợp ngoại lệ đối với việc thực thi kết quả hòa giải thường là khi trái với luật pháp của quốc gia thành viên, hoặc trong các trường hợp gian dối, cưỡng ép hoặc trái đạo đức.

(4) Phí hòa giải

Một loạt vấn đề hành chính tất nhiên sẽ phát sinh liên quan đến quá trình hòa giải và đối thoại gắn với Tòa án. Báo cáo này sẽ bỏ qua các vấn đề mang tính kỹ thuật, nhưng một vấn đề đáng quan tâm là phí hòa giải. Mặc dù một số quốc gia cung cấp dịch vụ hòa giải miễn phí, điều này là không thể ở mọi hệ thống hòa giải bởi sự hạn hẹp về ngân sách. Điều này có thể trở thành một vấn đề chính sách khá nan giải, vì các quyết định cần phải được quyết trên cơ sở cân nhắc liệu việc hòa giải miễn phí có thể dành cho tất cả mọi người; hay liệu việc hòa giải miễn phí có được cung cấp cho những người có nhu cầu, như là một phần của chương trình trợ giúp pháp lý; hay liệu phí hòa giải được phân chia thế nào; và cơ quan nào chịu trách nhiệm thu phí. Nếu hòa giải thành công, thì có cơ sở để chia đều các khoản phí giữa các bên, tùy thuộc vào bản chất của vụ việc. Nếu hòa giải không thành công, sẽ có quyết định về án phí khi kết thúc quá trình tố tụng dân sự hoặc hành chính thông thường. Trong trường hợp này, sẽ phải quyết định xem mỗi bên có chịu trách nhiệm về phí hòa giải hay không, hay bên thua kiện có chịu trách nhiệm cho tất cả các khoản phí hay không. Những chi tiết như vậy có thể trở nên phức tạp và sẽ cần nghiên cứu thêm. Có nhiều lựa chọn khác nhau, và phần lớn phụ thuộc vào sự phân bổ ngân sách nhà nước và bản chất của hòa giải (ví dụ: đó là tư nhân hay do nhà nước cung cấp).  

(5) Các nguyên tắc thường được chấp nhận trong hòa giải gắn với Tòa án

Để kết thúc phần nghiên cứu về kinh nghiệm quốc tế, chúng tôi nêu ra một số nguyên tắc cơ bản thường được thống nhất trong các lĩnh vực của hòa giải, bao gồm hòa giải và đối thoại gắn với Tòa án. Chúng bao gồm: tự nguyện; bảo mật; tính độc lập, vô tư và trung lập của Hòa giải viên; quyền tự quyết của các bên; bình đẳng của các bên; sáng tạo và bền vững; linh hoạt; và tiết kiệm chi phí92Thông thường các nguyên tắc này được xác định theo luật hoặc theo Bộ quy tắc ứng xử của Hòa giải viên hoặc cả hai. Ở Việt Nam, một bộ quy tắc ứng xử có lẽ nên được ban hành. Một trong những nguồn được sử dụng rộng rãi nhất trong vấn đề này là Bộ quy tắc ứng xử Hòa giải viên của Châu Âu vừa được Ủy ban châu Âu về hiệu quả hoạt động của Thẩm phán áp dụng93. Các quy tắc ứng xử Hòa giải viên thường khá ngắn và thường bao gồm các quy định về bảo mật, vô tư, xung đột lợi ích, chất lượng và năng lực. Trong phần này, báo cáo tóm tắt một số nguyên tắc cơ bản nhất: bảo mật, sự vô tư của Hòa giải viên, và quyền tự quyết của các bên.

- Bảo mật:

Một vấn đề khác biệt giữa hòa giải và xét xử là tính bảo mật. Nguyên tắc cơ bản liên quan đến hòa giải là thông tin mà các bên cung cấp trong quá trình hòa giải phải không được sử dụng làm bằng chứng trong phiên tòa nếu hòa giải không thành. Điều này trở thành vấn đề gây tranh cãi trong một hệ thống hòa giải gắn với Tòa án, trong đó một Thẩm phán tiến hành hòa giải đối với vụ án mà mình có trách nhiệm xét xử. Thẩm phán tiến hành hòa giải có thể đã nắm bắt rất nhiều thông tin mà bình thường không được tiết lộ trong quá trình xét xử, nhưng nếu thẩm phán cũng tiến hành xét xử vụ án đó, thì các thông tin đó có thể không được giữ bí mật. Sẽ là thừa khi yêu cầu Thẩm phán không tiết lộ thông tin thu được trong phiên hòa giải với chính mình. Một trong những lợi thế của một hệ thống hòa giải, theo đó Hòa giải viên và người xét xử không phải là cùng một người, là cho phép các bên bày tỏ nguyện vọng mộ cách cởi mở trong phiên hòa giải, đưa ra thông tin mà có thể không phù hợp trong xét xử. Chỉ trong một hệ thống hòa giải mà các chức năng hòa giải rõ ràng là không phụ thuộc vào việc xét xử thì mới có khả năng để bảo mật tất cả các thông tin và trao đổi giữa các bên trong quá trình hòa giải94

- Sự vô tư của Hòa giải viên:

Sự vô tư của Hòa giải viên, giống như tính bảo mật, là một nguyên tắc hầu như được chấp nhận rộng rãi, và cần được quy định trong luật hoặc các quy định về hòa giải, đối thoại gắn liền với Tòa án. Nguyên tắc này không khác nhiều so với nguyên tắc vô tư trong các chức năng nhà nước khác, bao gồm xét xử và không đáng để nhắc lại, nhưng cần lưu ý rằng đây là trách nhiệm của Hòa giải viên phải từ bỏ giải quyết vụ việc trong trường hợp có xung đột lợi ích. Tính trung lập và vô tư là điều cần thiết không chỉ trong hành vi mà còn trong nhận thức, vì tất cả các bên trong quy trình hòa giải đều phải hiểu được tính trung lập đó. Không thể có hòa giải hiệu quả nếu một trong hai bên cảm thấy rằng Hòa giải viên đã tiến hành hòa giải mang lại lợi ích cho một bên95.

Làm thế nào để nguyên tắc này được thể hiện trong pháp luật quốc gia, tất nhiên sẽ phụ thuộc vào các quy định pháp luật liên quan của quốc gia đó. Đó có thể là thực tiễn tốt về sự nhất quán, các điều khoản về sự xung đột lợi ích của Hòa giải viên phản ánh trong luật pháp. Nếu có một bộ quy tắc hòa giải, thì một định nghĩa về tính trung lập và vô tư có thể được mở rộng trong đó. Bộ quy tắc ứng xử Hòa giải viên của Châu Âu nêu rõ nguyên tắc này như sau: Hòa giải viên tại mọi thời điểm phải hành động và nỗ lực để được nhìn thấy, với sự vô tư đối với các bên và cam kết phục vụ tất cả các bên trong quá trình hòa giải96.

- Quyền tự quyết của các bên:

Cuối cùng, quyền tự quyết của các bên cần được lưu ý. Quyền tự quyết là một trong những nguyên tắc chính giúp phân biệt hòa giải với xét xử và trọng tài. Trong xét xử, Thẩm phán xem xét vụ việc và đưa ra phán quyết trên các căn cứ của pháp luật. Cho dù một Hòa giải viên thực hiện cách tiếp cận nhận định, ủng hộ hoặc chuyển đổi đối với vụ việc hòa giải của mình, thì rõ ràng, lợi ích của các bên là quan trọng nhất. Mặc dù Hòa giải viên không phải thiếu hiểu biết pháp luật, nhưng nhiệm vụ của Hòa giải viên không phải chỉ đơn thuần hoặc giải thích chặt chẽ pháp luật và áp dụng pháp luật vào các sự kiện pháp lý. Các bên phải chủ động dẫn dắt quá trình hòa giải.

III. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN

3.1. Tóm tắt chương trình khảo sát

- Địa điểm khảo sát: Để có cơ sở đánh giá kết quả thực hiện thí điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại bốn địa phương (Hải Phòng, Hà Nội, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh)97. Các địa phương này đã thực hiện thí điểm từ tháng 11 năm 2018 (riêng Hải Phòng từ tháng 12 năm 2018) đến tháng 8 năn 2019. Việc khảo sát được thực hiện đối với 13 trung tâm tại Hải Phòng (Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Hải An, Kiến An, An Dương, Thủy nguyên, Tiên Lãng, Kiến Thụy, An Lão, Đồ Sơn, Cát Hải, Vĩnh Bảo), 16 Trung tâm tại Hà Nội (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Cầu Giấy, Hoàng mai, Thanh Xuân, Long Biên, Hà Đông, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm, Đông Anh, Hoài Đức và Chương Mỹ), 6 trung tâm tại Nghệ An (Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và thành phố Vinh, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Diễn Châu) và 10 trung tâm tại Hồ Chí Minh (Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Chánh, Bình Tân, Bình Thạnh, Củ Chi, Gò Vấp, Quận 1, Quận 2, Quận 9, Tân Phú).

- Đối tượng khảo sát: Hòa giải viên, Đối thoại viên; các bên tham gia hòa giải, đối thoại; cán bộ Tòa án tham gia hòa giải, đối thoại; luật sư, nhà hoạt động thực tiễn pháp luật (cán bộ Hội phụ nữ, Trung tâm trợ giúp pháp lý, Sở, ban, ngành địa phương), chuyên gia pháp luật về hòa giải, đối thoại (cán bộ nghiên cứu, giảng dạy tại trường Học viện Tư pháp, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật - Đại học Vinh, Khoa Luật - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành – Thành phố Hồ Chí Minh) trên địa bàn 04 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An và Thành phố Hồ Chí Minh, với số lượng là 400 người gồm: 170 Hòa giải viên, Đối thoại viên; 55 đương sự; 95 cán bộ Tòa án, 80 luật sư và các nhà hoạt động thực tiễn pháp luật khác.

- Phương thức khảo sát: tổ chức 02 (hai) cuộc tọa đàm lấy ý kiến của các đối tượng khảo sát tại Hải Phòng (ngày 16-01-2020) và tại Hà Nội (ngày 17-01-2020) với tổng số người tham gia là 90 người, gửi lấy phiếu khảo sát đối với 110 người; Khảo sát bằng phương thức gọi điện thoại đối với 200 người.

- Mục đích khảo sát: khảo sát các thông tin về hoạt động thí điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa án tại các địa phương, ý kiến đánh giá và góp ý nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của mô hình thí điểm, đặc biệt là các nội dung liên quan đến bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhóm người yếu thế (như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, dân tộc thiểu số, người nghèo …).

- Thời gian tiến hành khảo sát: từ tháng 01 đến tháng 3 năm 2020.

- Đoàn khảo sát: thành viên nhóm nghiên cứu và đại diện UNDP.

Cùng với chương trình khảo sát này, để đánh giá đầy đủ, toàn diện và chính xác nhất quá trình thực hiện thí điểm Nhóm nghiên cứu còn phân tích các tài liệu khác như các báo cáo có liên quan của Tòa án nhân dân tối cao.

3.2. Thành tựu của hoạt động thí điểm

3.2.1. Về kết quả hòa giải, đối thoại thành theo từng loại vụ việc

Biểu đồ 1: Tỷ lệ hòa giải, đối thoại thành theo từng loại vụ việc theo địa phương

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (30).pngBiểu đồ 2: Số lượng từng loại vụ việc hòa giải, đối thoại thành theo địa phương

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (31).png

Biểu đồ 1 và Biểu đồ 298 cho thấy tỷ lệ hòa giải thành các vụ việc hôn nhân và gia đình tại 04 địa phương (Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An và Thành phố Hồ Chí Minh) là rất cao (đều trên 80%). Số lượng và tỷ lệ hòa giải thành của các loại án khác thấp hơn và chiếm số lượng nhỏ trong tổng số các vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành. Số lượng các tranh chấp, khiếu kiện tập trung chủ yếu ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh, đồng thời hai thành phố này cũng có số lượng các vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành nhiều nhất. Nghệ An và Hải Phòng có số lượng các vụ việc được hòa giải thành, đối thoại thành thấp hơn nhưng đạt tỷ lệ cao hơn. Điều này đã phản ánh thực tiễn rằng, ở những thành phố lớn hơn thì số lượng và mức độ phức tạp của các tranh chấp cao hơn. Tỷ lệ hòa giải thành các vụ việc hôn nhân và gia đình đều đạt tỷ lệ cao và chiếm số lượng lớn trong tổng số các vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành cũng cho thấy sự hiệu quả, tâm huyết và nỗ lực chung của các Hòa giải viên trong việc tác động đến tâm lý, tình cảm trong quan hệ gia đình và sự đồng đều về năng lực Hòa giải viên giữa các địa phương được khảo sát.

3.2.2. Kết quả hòa giải, đối thoại đối với nhóm người yếu thế

a) Đối với phụ nữ và trẻ em

Tỷ lệ vụ việc hòa giải, đối thoại sự tham gia của phụ nữ với tư cách là một bên tham gia hòa giải, đối thoại chiếm tỷ lệ rất cao (90%) (xem Biểu đồ 3 dưới đây). Trong đó, hòa giải các vụ việc hôn nhân và gia đình chiếm tỷ lệ chủ yếu, tổng số vụ việc hòa giải thành về hôn nhân và gia đình là 13.321 vụ việc, chiếm tỷ lệ 87,61% (13.321/15.205) trong tổng số các vụ việc đã hòa giải thành, đối thoại thành của 04 tỉnh, thành phố nêu trên.

Biểu đồ 3: Tỷ lệ vụ việc hòa giải, đối thoại có sự tham gia của phụ nữ

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (6).png

Kết quả khảo sát cho thấy, việc hòa giải có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em, có thể nhìn nhận một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, khi mối quan hệ giữa cha mẹ bị rạn nứt, trẻ em là người dễ bị tổn thương nhất. Do đó, hòa giải là giải pháp tốt nhất giúp vợ chồng có cơ hội tìm được tiếng nói chung, thống nhất về người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, tránh làm tổn thương tình cảm của con và hợp tác trong việc chăm sóc, nuôi dạy con sau ly hôn.

Thứ hai, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người phụ nữ về tài sản vì nhiều phụ nữ thường về sống trong gia đình nhà chồng và đóng góp toàn bộ sức lao động và tài sản của mình trong việc chăm sóc gia đình nhà chồng. Nhưng khi ly hôn, người phụ nữ thường không chứng minh được sự đóng góp đó. Đã có những vụ án mà người phụ nữ yêu cầu gia đình chồng bồi thường tuổi thanh xuân khi ly hôn. Tất nhiên là Tòa án không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này vì hôn nhân là tự nguyện. Khi hòa giải thành và hai bên thuận tình ly hôn, người phụ nữ được người chồng chia sẻ, cảm thông hơn và họ được bảo đảm quyền lợi về tài sản tốt hơn.

Thứ ba, hòa giải đoàn tụ thành là kết quả được mong đợi nhất, giúp hàn gắn rạn nứt hôn nhân và bảo vệ sự bền vững của gia đình. Kết quả hòa giải đoàn tụ thành trong thời gian thí điểm của 04 địa phương nêu trên được thể hiện trong Biểu đồ 4 dưới đây:

Biểu đồ 4: Số liệu hòa giải thành các vụ việc hôn nhân99

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (4).png

  Kết quả khảo sát cho thấy, đoàn tụ thành thường ở những cặp vợ chồng trẻ (dưới 30 tuổi), khi chi phí sinh hoạt gia đình tăng lên khiến đời sống kinh tế gia đình gặp khó khăn, cộng với áp lực nuôi dạy con cái và xử lý các mối quan hệ xã hội, vợ chồng có ít thời gian quan tâm, chăm sóc nhau dẫn đến mâu thuẫn, rạn nứt hôn nhân.

Biểu đồ 5: Độ tuổi ly hôn năm 2019

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (8).png

Biểu đồ 6: Vụ việc hôn nhân có con dưới 18 tuổi100

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (10).png

Biểu đồ 5 và 6 cho thấy tỷ lệ ly hôn của những cặp vợ chồng dưới 30 tuổi là 18,5%, tỷ lệ vụ việc có con dưới 18 tuổi là 25,3% và tương đương với tỷ lệ đoàn tụ thành trong hòa giải hôn nhân và gia đình (19,12%) cho thấy rằng đa số các vụ việc ly hôn của các cặp vợ chồng trẻ được hòa giải đoàn tụ thành.

Khi các Hòa giải viên tâm huyết và giàu kinh nghiệm khuyên giải thì các cặp vợ chồng này nhận thức cao hơn về vai trò, trách nhiệm của chính bản thân mình, biết lắng nghe, cảm thông, chia sẻ với nhau để hàn gắn tình cảm, xây dựng hạnh phúc gia đình, hôn nhân bền vững. Do vậy, 19,12% là tỷ lệ đoàn tụ thành chưa cao nhưng rất quý giá và đáng ghi nhận về sự nỗ lực và tâm huyết của các Hòa giải viên.

b) Đối với người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người nghèo và người yếu thế khác

Theo kết quả khảo sát cho thấy:

- Về người khuyết tật: Tại Hải Phòng có hơn 100 người khuyết tật là thương binh trong vụ án đòi bồi thường thiệt hại đối với hợp đồng thuê đất. Vụ việc này đã được hòa giải thành, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho người khuyết tật. Ngoài ra, các địa phương khác có rất ít người khuyết tật tham gia hòa giải, đối thoại trong đợt thí điểm, mỗi địa phương chỉ khoảng một vài người. Những trường hợp khuyết tật nghe, nói và nhìn thì do người thân của họ, như cha/mẹ, vợ/chồng trợ giúp về ngôn ngữ trong quá trình hòa giải.

- Về người dân tộc thiểu số: Trong 04 địa phương khảo sát đều có rất ít người dân tộc thiểu số sinh sống vì các địa phương này thực hiện thí điểm tại các vùng đô thị và miền biển. Huyện Chương Mỹ, Hà Nội có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống nhiều nhất so với các địa phương khác thì tỷ lệ cũng chỉ khoảng 01% nên cũng chỉ một vài vụ việc có người dân tộc thiểu số tham gia hòa giải và họ biết tiếng Việt.

- Với đặc trưng mệnh lệnh, hành chính trong quan hệ hành chính, người khởi kiện trong vụ án hành chính (người thi hành quyết định hành chính, hành vi hành chính) là người yếu thế; trong tranh chấp lao động, người lao động cũng thuộc nhóm yếu thế. Với hai nhóm quan hệ tranh chấp, khiếu kiện đặc thù này, quá trình thí điểm của 04 tỉnh, thành phố được khảo sát cũng đã đạt kết quả nhất định (tổng số vụ việc đối thoại thành về hành chính là 161/405 vụ việc đã tiến hành đối thoại, chiếm tỷ lệ 39,8%; tổng số vụ việc hòa giải thành về lao động là 65/103 vụ việc lao động đã tiến hành hòa giải, chiếm tỷ lệ 63,1%)101.

- Về người nghèo: do đây là thí điểm về hòa giải, đối thoại và sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ từ địa phương nên các trung tâm hòa giải thực hiện thí điểm đều là những đơn vị có sự phát triển về kinh tế xã hội ở mức độ nhất định và có số lượng án lớn. Tỷ lệ người nghèo trong các địa phương này là rất thấp (các quận, huyện tham gia thí điểm có tỷ lệ hộ nghèo trung bình là 1,53%, trong đó Hà Nội là 0,42%, Hải Phòng là 1,41%, Nghệ An là 4,11%, Hồ Chí Minh là 0,19%102. Tuy nhiên, đối với hầu hết các vụ việc về hôn nhân và gia đình, trong đó có các Tòa án nhân dân của 04 tỉnh nêu trên đã giải quyết trong năm 2019, các bên đều không sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật103. Do đó, thông qua hòa giải, đối thoại, Hòa giải viên, Đối thoại viên đã thực hiện vai trò tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giúp các bên được bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của mình, đặc biệt là nhóm người yếu thế.

3.2.3. Năng lực của Hòa giải viên, Đối thoại viên

Hòa giải viên, Đối thoại viên bao gồm Thẩm phán, cán bộ Tòa án đã về hưu; những người có chức danh tư pháp khác và cán bộ địa phương đã về hưu; luật sư, luật gia và các chuyên gia khác. Số lượng Hòa giải viên, Đối thoại viên của từng địa phương được thể hiện qua biểu đồ 7 sau đây:

Biểu đồ 7: Đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên104

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (33).png

  Biểu đồ trên cho thấy, Thẩm phán, cán bộ Tòa án đã về hưu chiếm tỷ lệ cao nhất (Nghệ An chiếm tới 72% - 13/18 người). Đây là nguồn Hòa giải viên, Đối thoại viên ổn định tại địa phương, có trình độ chuyên môn, uy tín, có bề dày kinh nghiệm hòa giải (từ 20 năm đến 30 năm làm công tác xét xử và hòa giải trong tố tụng). Nguồn thứ hai là những người có chức danh tư pháp khác và cán bộ địa phương đã về hưu, bao gồm: Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thanh tra viên, cán bộ các Sở, ban, ngành địa phương đã về hưu. Đây là đội ngũ có uy tín cao tại địa phương, đặc biệt là uy tín đối với các cơ quan hành chính địa phương. Do vậy, họ là nguồn đối thoại hành chính rất hiệu quả.

Ngoài ra còn có luật sư và các chuyên gia khác như: cán bộ hội phụ nữ, cán bộ trung tâm trợ giúp pháp lý, giảng viên đại học luật. Lực lượng này thường tập trung ở các thành phố lớn (tại Hà Nội và Hồ Chí Minh có tỷ lệ nguồn này cao nhất), họ có thế mạnh ở khả năng phân tích tình huống, nắm bắt tâm lý và thuyết phục, đặc biệt đối với trẻ em, phụ nữ và những người yếu thế.

Nhìn chung, đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên đều là những người có năng lực, trình độ chuyên môn cao, giàu kiến ​​thức văn hóa xã hội và tín nhiệm cao trong xã hội. Đây là nền tảng căn bản tạo nên thành công của thí điểm.

3.2.4. Một số trường hợp điển hình về hòa giải thành, đối thoại thành105

(1) Hòa giải đoàn tụ thành vụ án ly hôn tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Hà Nội

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện của chị D về việc ly hôn với anh Q, Hòa giải viên được phân công đã chủ động nghiên cứu hồ sơ vụ việc. Trên cơ sở đó, Hòa giải viên đã tiến hành buổi gặp gỡ riêng với chị D, anh Q và biết được nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là thời gian gần đây, do áp lực công việc, anh Q thường xuyên uống rượu về nhà muộn nên hai vợ chồng xảy ra cãi vã. Anh Q vẫn còn tình cảm với chị D và rất mong muốn hai vợ chồng có thể về đoàn tụ để cùng nuôi dạy hai con chung. Tại buổi hòa giải, Hòa giải viên phân tích các quy định pháp luật và hậu quả của việc ly hôn đối với vợ chồng chị D, anh Q. Sau đó, Hòa giải viên lắng nghe hai bên giãi bày những tâm tư của mình và giúp họ tháo gỡ các mâu thuẫn, bất đồng bằng các câu hỏi logic. Qua hòa giải, hai bên đều nhận ra chính họ cũng đã có lỗi trong cách cư xử với nhau, quan trọng hơn là khiến họ nhận ra họ vẫn còn tình cảm với nhau và mong muốn hàn gắn hôn nhân, cùng nhau nuôi dạy con cái. Anh Q hứa sẽ không uống rượu, về nhà muộn nữa và chia sẻ với chị D những vất vả trong cuộc sống. Chị D hứa sẽ lắng nghe chồng hơn để hai vợ chồng tìm lại hạnh phúc gia đình. Sau đó, chị D đã tự nguyện rút đơn khởi kiện và về đoàn tụ với anh Q.

- Kinh nghiệm rút ra: Đặc thù trong hòa giải vụ án ly hôn là liên quan đến tình cảm, tình nghĩa vợ chồng. Để hướng tới mục đích hòa giải đoàn tụ thì vai trò của Hòa giải viên là cầu nối để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, Hòa giải viên cần lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của hai bên vợ chồng để giúp họ tháo gỡ các mâu thuẫn, bất đồng; trong đó, kỹ năng đặt câu hỏi logic để các bên tự trả lời và tự nhận ra tình cảm và trách nhiệm của mình là kinh nghiệm quan trọng cho thấy sự hiệu quả.

(2) Hòa giải thuận tình ly hôn và thỏa thuận về việc nuôi con tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Người vợ yêu cầu ly hôn chồng do chồng ngoại tình dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Sau khi Hòa giải viên tiến hành hòa giải, vợ chồng đã đi đến thống nhất việc thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, hai vợ chồng đều muốn được nuôi con và đứa trẻ đã trốn tránh khi Hòa giải viên hỏi ý kiến con muốn được ở với bố hay mẹ. Hòa giải viên đã kiên trì, đến tận nhà động viên, tâm tình với cháu bé, tạo cho cháu sự thân thiện và tin tưởng. Và cuối cùng, cháu bé đã tâm sự thật rằng cháu muốn được ở với mẹ nhưng sợ bố nên không dám nói. Khi hiểu được nguyện vọng của cháu, Hòa giải viên đã phân tích, khuyên giải và người chồng đã đồng ý để vợ nuôi con, người chồng cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Kinh nghiệm rút ra: Khi cha mẹ ly hôn thì trẻ em thường bị tổn thương về mặt tâm lý. Do đó, để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích chính đáng của cháu bé, Hòa giải viên cần hiểu tâm lý trẻ em, tạo sự thân thiện, tin tưởng, tâm tình và động viên để cháu bé bày tỏ mong muốn, nguyện vọng của mình; đồng thời, Hòa giải viên cần phân tích khuyên giải cha mẹ cháu bé để có được phương án hòa giải đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con họ.

(3) Hòa giải thành tranh chấp hợp đồng thuê đất của gần 100 thương binh tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Công ty TNHH CL là một doanh nghiệp chính sách xã hội, tạo công ăn việc làm cho hơn một trăm thương binh trong công ty. Công ty đã ký hợp đồng đấu thầu thuê diện tích 4.979 m2 đất bãi bồi ven sông Lạch Tray với UBND xã AĐ với thời hạn 20 năm. Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty TNHH CL đã xây dựng cơ sở hạ tầng như đổ cát san lấp mặt bằng, xây kè đá, hàng rào ranh giới, thuê bảo vệ công trình với tổng kinh phí gần 5 tỷ đồng. Trong quá trình xây dựng đến khi hoàn tất công trình thì xảy ra tranh chấp do UBND xã AĐ ký xác nhận chuyển nhượng diện tích đất đã cho thuê cho người khác và ra thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng với Công ty CL. Tranh chấp kéo dài nhiều năm và đã được UBND huyện, xã giải quyết nhưng không thành. Sự việc lên đến đỉnh điểm mâu thuẫn đã khiến hàng trăm thương binh cùng với các phương tiện tập trung phản đối tại khu đất tranh chấp. Sau khi tập trung nghiên cứu hồ sơ, Hòa giải viên kiên trì lên lịch làm việc với từng bên đương sự, phân tích về hậu quả pháp lý, những quy định của pháp luật và tổ chức hòa giải. Tại phiên hòa giải, các bên đương sự đã nhận thức được phần đúng sai và thống nhất được với nhau về phương án xử lý, người khởi kiện rút đơn khởi kiện và có đơn xin thuê lại diện tích đất trên, UBND xã AĐ cam kết thực hiện các thủ tục theo quy định để Công ty CL được thuê lại diện tích đất đó.

- Kinh nghiệm rút ra: Đối với tranh chấp phức tạp, liên quan đến nhiều người, trong đó có người khuyết tật thì Hòa giải viên cần kiên trì tìm hiểu nguyên nhân tranh chấp, trong đó cần gặp riêng từng bên tranh chấp trước khi tổ chức phiên hòa giải, giúp các bên lập phương án hòa giải, đặc biệt bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người khuyết tật. Bên cạnh đó, việc phổ biến các quy định của pháp luật liên quan là rất cần thiết trong tranh chấp về lĩnh vực pháp luật phức tạp như đất đai.

(4) Hòa giải thành tranh chấp hợp đồng vay tài sản tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, Nghệ An

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, Nghệ An nhận được đơn khởi kiện của chị H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T trả 118 triệu đồng tiền vay. Sau khi được phân công, Hòa giải viên đã trực tiếp đến nhà anh T để tìm hiểu sự việc thì được biết hoàn cảnh kinh tế của gia đình anh T đang gặp khó khăn, thực tế khoản tiền đó anh T vay hộ cho bạn, bạn anh T lại đang vỡ nợ nên hiện nay anh T không có khả năng trả nợ cho chị H; anh T lại là hàng xóm của mẹ chị H. Hòa giải viên cũng đã gặp gỡ, trao đổi riêng với chị H. Tại buổi hòa giải, Hòa giải viên đã phân tích các quy định của pháp luật có liên quan, phân tích cả về khía cạnh tình nghĩa hàng xóm, láng giềng cho các bên. Kết quả là vụ việc đã hòa giải thành, chị H thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu anh T phải trả cho chị H 30 triệu đồng tiền gốc, anh T nhất trí trả nợ cho chị H.

- Kinh nghiệm rút ra: Đối với hòa giải trong tranh chấp vay nợ thì một trong vấn đề mấu chốt là khả năng trả nợ của bên vay. Khi bên vay có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì kỹ năng thuyết phục của Hòa giải viên đối với bên cho vay là quan trọng nhất, trong đó, Hòa giải viên gợi ra các mối quan hệ thân tình, tốt đẹp vốn có giữa hai bên (như tình làng, nghĩa xóm) để bên cho vay thông cảm, chia sẻ với hoàn cảnh khó khăn của bên vay, từ đó hai bên thống nhất được phương án hòa giải phù hợp, khả thi đối với cả hai bên.

(5) Hòa giải thành tranh chấp hợp đồng vay vốn tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân quận Cầu giấy, Hà Nội

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Trung tâm hòa giải, đối thoại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy nhận được 14 đơn khởi kiện của 14 nguyên đơn khác nhau cùng khởi kiện Công ty cổ phần dịch vụ và thương mại HK về tranh chấp hợp đồng vay vốn. Trước khi gửi đơn đến Tòa án, các bên đương sự đã từng gặp nhau để thỏa thuận rất nhiều lần nhưng không tìm được tiếng nói chung. Tại các phiên hòa giải, các bên tranh cãi gay gắt, song bằng kỹ năng hòa giải và tinh thần trách nhiệm cao, kiên trì tổ chức nhiều buổi hòa giải, các Hòa giải viên đã cùng nhau phối hợp với Thẩm phán vận động các bên thỏa thuận được với nhau về phương án giải quyết và các bên yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành. Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy đã ban hành được 14 quyết định công nhận kết quả hòa giải thành của vụ việc trên.

- Kinh nghiệm rút ra: Đối với các vụ việc có tính chất, nguyên nhân mâu thuẫn, tranh chấp tương tự nhau hoặc có cùng bị đơn thì các Hòa giải viên nên phối hợp, hỗ trợ nhau trong việc tìm hiểu nguyên nhân tranh chấp, thuyết phục các bên và đưa ra phương án hòa giải hài hòa, phù hợp.

(6) Hòa giải thành tranh chấp thừa kế tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Vinh, Nghệ An nhận được đơn khởi kiện của anh X yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế tài sản của bố mẹ anh X là ½ giá trị tài sản mà bà H (người mẹ kế của anh) hiện đang quản lý, sử dụng. Trong quá trình hòa giải, bà H cho rằng tài sản đó là do bà và bố anh H tạo lập trong thời kỳ hôn nhân nên không chấp nhận chia cho anh X. Hòa giải viên đã đến tận nhà riêng từng bên tranh chấp để giải thích các quy định của pháp luật và thuyết phục các bên hòa giải. Hòa giải viên cũng đến gặp chính quyền cơ sở, Trung tâm quản lý đất và phòng tài chính để tham khảo giá đất để có cơ sở đưa ra phương án hòa giải cho các bên lựa chọn. Qua 3 lần mời các đương sự đến Trung tâm Hòa giải để làm việc, Hòa giải viên đã thuyết phục được hai bên đi đến thống nhất, bà H đồng ý giao lại giá trị di sản thừa kế phần của anh X bằng tiền mặt, được thực hiện trong 2 tháng, hai bên giữ được tình cảm gia đình.

- Kinh nghiệm rút ra: tranh chấp thừa kế đối với di sản là nhà đất thì Hòa giải viên nên đến hòa giải tại nơi có tài sản tranh chấp để tìm hiểu rõ nguyên nhân tranh chấp và hiện trạng sử dụng tài sản, đồng thời, Hòa giải viên cần chủ động gặp cơ quan quản lý nhà đất và giá đất để giúp các bên xây dựng phương án hòa giải phù hợp. Kỹ năng thuyết phục cũng rất quan trọng trong hòa giải tranh chấp thừa kế vì liên quan đến tình cảm gia đình.

(7) Hòa giải thành tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Tranh chấp giữa Công ty TNHH ĐT và Công ty KC về hợp đồng mua bán hàng hóa. Sau hai lần mời lên hòa giải, người bị kiện đều cố tình né tránh không đến, Hòa giải viên vẫn kiên trì, đến lần thứ ba, đương sự đồng ý đến hòa giải, Hòa giải viên đã hòa giải thành công, hai bên đương sự đã thống nhất được số tiền cũng như lộ trình trả nợ, cùng làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành.

- Kinh nghiệm rút ra: Ban đầu tâm lý các bên tranh chấp thường căng thẳng và không có niềm tin vào việc tìm được sự đồng thuận giữa các bên. Vai trò của Hòa giải viên là giúp các bên tháo gỡ bất đồng, mâu thuẫn. Do vậy, sự kiên trì cũng là điều rất cần thiết trong hòa giải.

(8) Hòa giải thành tranh chấp về tiền công lao động tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, Hải Phòng

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, Hải Phòng nhận được đơn khởi kiện của ông M yêu cầu ông T trả tiền công do ông M thi công xây dựng nhà cho ông T. Quá trình thi công xây dựng, ông T mới ứng cho ông M ½ số tiền công theo thỏa thuận. Sau khi hoàn thành công trình đúng thời hạn, ông M đã nhiều lần yêu cầu ông T thanh toán nốt số tiền công xây dựng nhưng ông T dùng nhiều cách lẩn tránh việc thanh toán. Với kinh nghiệm và kỹ năng hòa giải, Hòa giải viên đã vận động, thuyết phục và hòa giải thành công, hai bên đã thống nhất được số tiền công xây dựng còn lại, ông T đã thanh toán toàn bộ số tiền công xây dựng mà hai bên thống nhất ngay tại phiên hòa giải, ông M đã rút đơn khởi kiện.

- Kinh nghiệm rút ra: Trong tranh chấp về tiền công lao động, người lao động ở vị trí thế yếu so với người sử dụng lao động. Do vậy, kỹ năng quan trọng của Hòa giải viên trong tranh chấp này là vận động, thuyết phục bên sử dụng lao động.

(9) Đối thoại thành khiếu kiện hành chính về thu hồi đất và phương án bồi thường khi nhà nước thu hồi đất tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

- Tóm tắt quá trình hòa giải: Hơn 30 hộ gia đình khởi kiện UBND quận A, thành phố Hà Nội về quyết định thu hồi đất để làm đường giao thông. Trước khi khởi kiện tại Tòa án, các hộ dân này đã khiếu nại nhiều lần đến cơ quan hành chính có thẩm quyền nhưng chưa được giải quyết. Sau khi được phân công, Đối thoại viên đã gặp gỡ riêng người khởi kiện để làm rõ nội dung yêu cầu khởi kiện, đồng thời gặp gỡ chủ tịch Ủy ban nhân dân quận A để vận động, thuyết phục. Qua phân tích của Đối thoại viên, chủ tịch Ủy ban nhân dân quận A đã nhận thấy việc ban hành quyết định thu hồi đất không đúng đối tượng, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của công dân nên đã ban hành Quyết định sửa đổi Quyết định thu hồi đất và các hộ dân đã rút đơn khởi kiện.

- Kinh nghiệm rút ra: Trong đối thoại hành chính, năng lực quan trọng nhất của Đối thoại viên là sự am hiểu pháp luật, kỹ năng đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính để giúp các bên giải quyết khiếu kiện một cách nhanh chóng, ít tốn kém và tháo gỡ mâu thuẫn giữa chính quyền và người dân.

3.2.5. Thi hành kết quả hòa giải thành, đối thoại thành

Qua khảo sát cho thấy, kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có thể phân chia thành 02 loại:

- Các bên thi hành kết quả hòa giải thành, đối thoại thành ngay khi kết thúc hòa giải, đối thoại hoặc người khởi kiện rút đơn khởi kiện (chiếm khoảng 30%, trong đó, 20% là các trường hợp đoàn tụ thành vụ án ly hôn, 10% là các trường hợp khác) (xem Biểu đồ 8 dưới đây).

Biểu đồ 8: Tỷ lệ thi hành kết quả hòa giải, đối thoại thành

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (13).png

- Các trường hợp khác, các bên đề nghị Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận và các đương sự tự thực hiện thỏa thuận hoặc yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành trên cơ sở tự nguyện của các đương sự. Do vậy, việc thi hành án được thực hiện thuận lợi, không phải cưỡng chế, giúp Cơ quan thi hành án dân sự giảm được rất nhiều thời gian, nhân lực, chi phí tổ chức thi hành án.

3.2.6. Tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho các bên tham gia hòa giải, đối thoại và các cơ quan tiến hành tố tụng

Kết quả khảo sát cho thấy thời gian tiến hành một vụ việc hòa giải, đối thoại như ở Biểu đồ 9 dưới đây:

Biểu đồ 9: Thời gian tiến hành một vụ việc hòa giải, đối thoại

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (28).png

Trong khi đó, hòa giải, đối thoại trong tố tụng trung bình từ 2 đến 4 tháng, thời gian xét xử sơ thẩm trung bình từ 5 đến 7 tháng, chưa kể có những vụ việc phải qua xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm thì thời gian có thể gấp lên nhiều lần. Như vậy, hòa giải, đối thoại theo thí điểm tiết kiệm thời gian đáng kể so với xét xử.

Tiết kiệm thời gian cũng giúp các bên tiết kiệm công sức; đồng thời, thủ tục linh hoạt, việc liên hệ giữa Hòa giải viên, Đối thoại viên có thể thông qua điện thoại, các phương tiện trực tuyến hoặc gặp gỡ ngoài trụ sở Tòa án giúp các bên sắp xếp phù hợp với thời gian làm việc của mình cũng giúp các bên tiết kiệm công sức so với thủ tục tố tụng. Trường hợp không thành cũng giúp Tòa án giải quyết vụ việc nhanh hơn do quá trình hòa giải giúp các bên hiểu hơn về quyền và nghĩa vụ của mình nên các đương sự cũng hợp tác hơn với Tòa án và hồ sơ khởi kiện được chuẩn bị đầy đủ hơn khi chuyển sang tố tụng.

Kết quả khảo sát đối với các bên tham gia hòa giải, đối thoại cho thấy lợi ích mà các bên nhận được khi hòa giải đối thoại thành như Biểu đồ 10 dưới đây:

Biểu đồ 10: Lợi ích mà các bên nhận được khi hòa giải, đối thoại thành

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (25).png

Bên cạnh đó, trong quá trình thí điểm, các bên tham gia hòa giải không phải chịu phí hòa giải như trong tố tụng. Đối với Tòa án, chi phí trung bình cho một vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành trong đợt thí điểm là 1,2 triệu đồng, bằng 20% chi phí trung bình cho một vụ việc ở giai đoạn xét xử sơ thẩm (5,5 triệu đồng)106.

Ngoài việc tiết kiệm chi phí, các vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành đã giúp giảm áp lực công việc, tiết kiệm thời gian, nhân lực trong việc chuẩn bị, tổ chức các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm cho các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm nếu có kháng cáo, kháng nghị.

3.3. Các yếu tố căn bản tạo nên thành công

3.3.1. Sự linh hoạt trong trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại

Ngay sau khi đương sự nộp đơn đến Tòa án, đơn khởi kiện sẽ được Tòa án chuyển đến Trung tâm hòa giải, đối thoại để giải quyết. Khi chuyển đơn sang Trung tâm, Giám đốc Trung tâm phân công một Hòa giải viên/Đối thoại viên tiến hành hòa giải/đối thoại.

Các Hòa giải viên, Đối thoại viên chủ động nghiên cứu hồ sơ vụ việc, lên lịch làm việc với các bên (có thể liên lạc với các bên bằng cách gọi điện thoại trực tiếp) trong giờ hành chính hoặc ngoài giờ hành chính theo thời gian phù hợp với các bên. Hòa giải viên, Đối thoại viên có thể gặp các bên tại trụ sở hoặc ngoài trụ Tòa án, như tại nhà riêng của các bên, tại Nhà văn hóa tổ dân phố, nhà văn hóa thôn, tại trụ sở Ủy ban nhân dân (thường đối với tranh chấp đất đai), có trường hợp hòa giải tại văn phòng luật sư (đối với Hòa giải viên là luật sư).

Kết quả khảo sát cho thấy việc lựa chọn phương thức liên hệ và địa điểm hòa giải, đối thoại như ở Biểu đồ 11 và 12 dưới đây:

Biểu đồ 11: Phương thức liên hệ giữa Hòa giải viên, Đối thoại và các bên

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (16).png

Biểu đồ 12: Địa điểm tiến hành hòa giải, đối thoại

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (17).png

Ngoài ra, chứng cứ không phải là yếu tố bắt buộc và căn bản mà chỉ là yếu tố hỗ trợ trong hòa giải, đối thoại. Do đó, các bên không tốn nhiều thời gian và công sức cho việc thu thập chứng cứ. Thẩm phán tham gia phiên ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại để nắm bắt nội dung vụ việc, ký vào biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại một cách nhanh chóng. Sự linh hoạt và mềm dẻo về thủ tục đã góp phần phát huy những ưu thế của hòa giải, đối thoại và góp phần tạo nên thành công của hoạt động thí điểm.

3.3.2. Đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên có năng lực và tâm huyết

Qua đợt thí điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa án, các Hòa giải viên, Đối thoại viên đã thể hiện phẩm chất và năng lực nổi bật sau đây:

Thứ nhất, khả năng nghiên cứu hồ sơ vụ việc, nắm bắt đầy đủ và nhanh chóng về nội dung tranh chấp, các chủ thể liên quan đến tranh chấp, nguyên nhân của tranh chấp, những vấn đề mấu chốt của tranh chấp cần được giải quyết, tháo gỡ để giúp các bên đi đến được thỏa thuận, thống nhất.

Thứ hai, sự linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong quá trình hòa giải, đối thoại, thể hiện ở việc sử dụng đa dạng cách thức hòa giải, như gặp gỡ từng bên, động viên, thuyết phục, đặt các câu hỏi logic để khai thác tâm lý, tình cảm của các bên; chủ động gặp gỡ các cơ quan, tổ chức có liên quan để hiểu thêm về nguồn gốc tranh chấp, tham khảo giá thị trường để xây dựng phương án hòa giải, đối thoại cho các bên.

Thứ ba, sự nhạy bén trong nắm bắt tâm lý các bên tranh chấp, đặc biệt là trong vụ án ly hôn, Hòa giải viên phân tích trên khía cạnh tình cảm gia đình, tình nghĩa vợ chồng để các bên nhận ra lỗi của mình đối với vợ/chồng, từ đó biết cảm thông, chia sẻ, hàn gắn quan hệ gia đình. Kết quả hòa giải đoàn tụ thành đối với tranh chấp hôn nhân là minh chứng rõ nhất về điều này.

Thứ tư, sự kiên trì trong hòa giải, đối thoại ở những vụ việc mà đương sự không hợp tác, không đến tham gia hòa giải, đối thoại; bằng sự kiên trì và tâm huyết của Hòa giải viên, cuối cùng, vụ việc cũng hòa giải thành/đối thoại thành.

Thứ năm, có tấm lòng nhân hậu, bảo vệ người yếu thế, điển hình như động viên trẻ em trong vụ án ly hôn để cháu bé giãi bày tâm tư, nguyện vọng của mình với Hòa giải viên, từ đó thuyết phục các bên xây dựng phương án hòa giải tốt nhất cho trẻ em. Ngoài ra, hòa giải thành vụ việc dân sự có hàng trăm người thương binh tham gia; động viên người cho vay giảm lãi và gốc cho người vay vì người vay có hoàn cảnh khó khăn là những vụ việc hòa giải thể hiện tính nhân văn sâu sắc.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy các lý do lựa chọn làm Hòa giải viên, Đối thoại viên và nguyện vọng của các Hòa giải viên, Đối thoại viên như ở Biểu đồ 13 và 14 dưới đây:

Biểu đồ 13: Lý do lựa chọn làm Hòa giải viên, Đối thoại viên

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (19).png

Biểu đồ 14: Nguyện vọng của các Hòa giải viên, Đối thoại viên

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (20).png

Như vậy, đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên hội tụ các yếu tố cần thiết tạo nên thành công, bao gồm năng lực, tâm huyết, kinh nghiệm và uy tín.

3.3.3. Sự hỗ trợ tích cực của Tòa án, các cơ quan và tổ chức có liên quan

Sự hỗ trợ tích cực của các Tòa án, các cơ quan và tổ chức có liên quan cũng góp phần đáng kể vào sự thành công của hoạt động thí điểm. Trước hết là Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các văn bản về tổ chức, hoạt động của các Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; hướng dẫn nghiệp vụ trong quá trình hòa giải, đối thoại; tổ chức 02 Hội nghị tập huấn pháp luật và nghiệp vụ tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh cho các Hòa giải viên, Đối thoại viên, một số lãnh đạo, cán bộ Tòa án phụ trách thí điểm hòa giải, đối thoại107. Sau đó, một số Tòa án địa phương (Hà Nội, Hải Phòng) tiếp tục tổ chức hội nghị tập huấn, hội thảo chia sẻ kinh nghiệm về công tác hòa giải, đối thoại cho các Hòa giải viên, Đối thoại viên, các Giám đốc, Thư ký của Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.108 Tòa án nhân dân tối cao cũng cử các đoàn công tác do Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao làm trưởng đoàn đến từng địa phương để hỗ trợ hướng dẫn nghiệp vụ trực tiếp cho các địa phương thực hiện thí điểm. Thường trực các thành ủy, tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các ban ngành địa phương nơi thực hiện thí điểm tham gia Ban chỉ đạo thực hiện thí điểm, hỗ trợ về kinh phí cho hoạt động thí điểm. Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ trong việc gửi giấy mời các bên, cung cấp Phòng hòa giải và cùng dự buổi hòa giải để động viên, thuyết phục các bên.

Khảo sát cho thấy tỷ lệ vụ việc hòa giải, đối thoại có sự trợ giúp của người có uy tín như ở Biểu đồ 15 dưới đây:

Biểu đồ 15: Vụ việc hòa giải, đối thoại có sự trợ giúp của người có uy tín

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (21).png

Sự hỗ trợ của người có uy tín bao gồm: cán bộ chuyên môn về quản lý đất đai xã, phường trợ giúp về việc xác định nguồn gốc nhà đất, đo đạc đất; hội phụ nữ; đoàn viên thanh niên; cha, mẹ, người thân của các bên tranh chấp trong việc động viên, thuyết phục các bên hòa giải, đối thoại thành công.

Hoạt động thí điểm còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, tâm huyết của các chuyên gia quốc tế, như Thẩm phán Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản. Đặc biệt là Thẩm phán Gordon J. Low – Tòa án cấp cao Hoa Kỳ đã trực tiếp huấn luyện kỹ năng hòa giải cho các Hòa giải viên, Đối thoại viên tại các phiên hòa giải, đối thoại.

Các cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình hỗ trợ việc thông tin, tuyên truyền hoạt động thí điểm: Báo Công lý, Tạp chí Tòa án nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Truyền hình Quốc hội có nhiều bài viết, chuyên mục về công tác thí điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Cổng Thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao cũng đã ra mắt chuyên mục về “Đề án thí điểm đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính” để chia sẻ các tài liệu, bài viết và thông tin về hòa giải, đối thoại. Một số Tòa án phối hợp với Ban Nội chính, Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương thực hiện phóng sự về hòa giải, đối thoại, điển hình như Nghệ An.

3.4. Một số khó khăn, vướng mắc

3.4.1. Tuyển chọn, bổ nhiệm và quản lý Hòa giải viên, Đối thoại viên

Do đây là thời gian thí điểm nên cơ chế, chính sách và kinh nghiệm đối với công tác thực hiện thí điểm nói chung, cũng như vấn đề tuyển chọn, bổ nhiệm và quản lý Hòa giải viên, Đối thoại viên còn một số hạn chế, cụ thể như số lượng Hòa giải viên, Đối thoại viên được phân bổ chưa tương xứng với số lượng vụ việc phải hòa giải, đối thoại dẫn đến tình trạng quá tải tại một số Trung tâm Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;109 chưa có quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ cũng như các biện pháp xử lý vi phạm của Hòa giải viên, Đối thoại viên nên một số trường hợp Hòa giải viên, Đối thoại viên chưa dành thời gian và công sức thích đáng cho nhiệm vụ tiến hành hòa giải, đối thoại nên kết quả chưa cao.

3.4.2. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại

Nhìn chung, trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại rất linh hoạt và dành sự chủ động cho Hòa giải viên, Đối thoại viên. Tuy nhiên, quá trình thí điểm còn gặp một số khó khăn, vướng mắc về trình tự, thủ tục hòa giải mà nguyên nhân chính là chưa có luật điều chỉnh và kinh nghiệm thực tiễn, cụ thể như sau:

Thứ nhất, thời hạn hòa giải tối đa là 01 tháng, thời hạn đối thoại tối đa là 02 tháng thì chưa đảm bảo đối với vụ việc phức tạp, chẳng hạn trường hợp cần chờ ý kiến tham vấn của cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chuyên môn trong một số lĩnh vực đang tranh chấp; trường hợp cần thời gian để xác minh địa chỉ liên lạc và thông tin của các bên; trường hợp các bên gặp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến thời hạn hòa giải, đối thoại bị kéo dài; trường hợp các bên thỏa thuận kéo dài thời gian hòa giải, đối thoại theo tiến độ thực hiện cam kết của bên có nghĩa vụ. Đối với các trường hợp này, Hòa giải viên, Đối thoại viên phải kết thúc quá trình hòa giải theo đúng thời hạn dẫn đến kết quả hòa giải, đối thoại không thành.

Thứ hai, do áp dụng thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự dẫn đến các bên e ngại sử dụng thủ tục này vì phức tạp và tốn kém thời gian, đặc biệt là trong các tranh chấp về tín dụng, thương mại. Qua khảo sát, một số đương sự cho biết rằng, do thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành quá phức tạp và không phù hợp nên mặc dù kết quả hòa giải thành nhưng các bên lập biên bản không thành để chuyển sang cơ chế hòa giải trong tố tụng để được công nhận kết quả hòa giải thành theo thủ tục hòa giải trong tố tụng. Cách làm này vừa tốn kém thời gian công sức của các bên, của Tòa án, vừa vô hiệu hóa thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành ngoài Tòa án.

Ngoài ra, do chưa có Luật điều chỉnh nên vận dụng các quy định của pháp luật tố tụng để xử lý dẫn đến việc thực hiện gặp khó khăn và thiếu tính thống nhất trong một số trường hợp như: việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của các bên (người khởi kiện nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm theo đơn khởi kiện; hoặc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình Hòa giải viên, Đối thoại viên tiến hành hòa giải, đối thoại); việc xác minh trên thực tế, như xem xét thẩm định tại chỗ; việc mời các cơ quan, tổ chức cá nhân tham gia quá trình hòa giải, đối thoại, đặc biệt là cơ quan quản lý về gia đình, trẻ em trong tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

3.4.3. Niềm tin và sự ủng hộ của người dân

Nhận thức của một số người dân về hòa giải, đối thoại còn hạn chế, chưa hiểu hết được ý nghĩa của việc hòa giải, chưa thực sự tin tưởng vào cơ chế hòa giải mới và sợ mất thời gian nên khi Tòa án chuyển đơn khởi kiện sang Trung tâm hòa giải để giải quyết thì các bên nhận thức là Tòa án đang gây khó khăn dẫn đến có thái độ bức xúc, không hợp tác với Hòa giải viên, Đối thoại viên, như không thực hiện việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cần thiết theo yêu cầu của Hoà giải viên, Đối thoại viên hoặc làm đơn đề nghị không tổ chức hòa giải, đối thoại. Một số trường hợp, bên nhận được giấy mời của Trung tâm hòa giải không hợp tác, cố tình trốn tránh, dẫn đến không hòa giải, đối thoại được. Một số trường hợp, luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đã tư vấn cho các bên không đồng ý hòa giải, đối thoại.

3.4.4. Kinh phí và cơ sở vật chất

Điều kiện cơ sở, vật chất của một số Trung tâm còn nhiều khó khăn, do trụ sở của Tòa án nhân dân cấp huyện quá tải, xuống cấp, nên việc bố trí phòng làm việc, phòng hòa giải, đối thoại gặp khó khăn (điển hình là Nghệ An). Nguồn kinh phí phục vụ công tác hòa giải, đối thoại phụ thuộc kinh phí của địa phương cấp nên chưa kịp thời, chưa đủ so với nhu cầu thực tế; thù lao trả cho các Hòa giải viên, Đối thoại viên chưa tương xứng với công sức và hiệu quả họ đóng góp, chưa có kinh phí cho Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện nhiệm vụ như tiền điện thoại, chi phí xem xét hiện trạng, thẩm định tại chỗ… dẫn đến tâm lý của Hòa giải viên, Đối thoại viên chưa yên tâm công tác.

IV. CÁC KIẾN NGHỊ

4.1. Một số nội dung của dự án Luật

4.1.1. Phạm vi và đối tượng áp dụng của Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Hiện nay, tại Việt Nam đã có một số cơ chế hòa giải, đối thoại ngoài Tòa án và cơ chế hòa giải trong tố tụng. Tuy nhiên, Tòa án vẫn đang đối mặt với sự quá tải về công việc do số lượng tranh chấp ngày càng gia tăng. Hơn nữa, tinh thần chung là càng tạo nhiều cơ hội để các bên tham gia hòa giải, đối thoại càng tốt. Do đó, phạm vi, đối tượng áp dụng của Luật mới được giới hạn với các loại tranh chấp, khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án đã được khởi kiện tại Tòa án và thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ việc là phù hợp. Cơ chế này cũng độc lập và không mâu thuẫn, chồng chéo, thay thế cơ chế hòa giải, đối thoại hiện hành.

4.1.2. Chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại

Thứ nhất, nguồn Hòa giải viên, Đối thoại viên

Kết quả thí điểm và kinh nghiệm các nước cho thấy, chủ thể tiến hành hòa giải, đối thoại nên tách biệt với chủ thể xét xử. Do đó, Thẩm phán đã tiến hành hòa giải, đối thoại tranh chấp, khiếu kiện thì không nên tham gia xét xử vụ việc đó nếu hòa giải, đối thoại không thành, trừ trường hợp các bên đồng ý. Hơn nữa, Việt Nam đang trong tình trạng thiếu Thẩm phán do chính sách tinh giản biên chế thì rõ ràng chủ thể hòa giải, đối thoại không thuộc biên chế là lựa chọn phù hợp. Các Thẩm phán, những người cán bộ về hưu (Thanh tra viên, cán bộ các Sở, ban, ngành địa phương đã về hưu) được quá trình thí điểm minh chứng là họ có năng lực và tâm huyết; thực tiễn từ các nước trên thế giới cũng cho thấy điều đó. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng, tâm lý của Thẩm phán và cán bộ về hưu là mong muốn được tiếp tục cống hiến cho xã hội trong những hoạt động mang tính xã hội và nhân văn cao. Do đó, hoạt động hòa giải, đối thoại rất phù hợp đối với họ. Bên cạnh đó, Việt Nam có đặc thù là người dân hiểu biết pháp luật chưa cao và ít sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật, Hòa giải viên, Đối thoại viên có vai trò quan trọng trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật. Kết quả thí điểm cũng cho thấy, Thẩm phán và những cán bộ địa phương về hưu được tín nhiệm cao, tạo sự tin tưởng và thiện cảm đối với người dân. Như vậy, nên quy định Thẩm phán, những người có chức danh tư pháp và cán bộ về hưu là nguồn Hòa giải viên, Đối thoại viên chính.

Ngoài ra, Hòa giải viên vụ việc, Hòa giải viên của các Trung tâm hòa giải thương mại được thành lập theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP của Chính phủ, luật sư, các chuyên gia tâm lý, những người có tín nhiệm cao trong cộng đồng dân cư cũng là nguồn Hòa giải viên, Đối thoại viên tốt.

Thứ hai, tiêu chuẩn Hòa giải viên, Đối thoại viên

Một trong các yếu tố quan trọng đối với Hòa giải viên, Đối thoại viên là kỹ năng hòa giải, đối thoại. Trong quá trình thí điểm, bên cạnh sự tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng hòa giải, đối thoại do Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án địa phương tổ chức, cộng với sự giúp đỡ của các chuyên gia hòa giải thì các Hòa giải viên, Đối thoại viên còn vận dụng kinh nghiệm hòa giải, đối thoại trong tố tụng khi họ còn là Thẩm phán đương nhiệm. Tuy nhiên, khi Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án được ban hành và thi hành một cách hiệu quả thì Thẩm phán sẽ ít tiến hành hòa giải, đối thoại mà chuyên tâm vào hoạt động xét xử và do đó, họ ít kinh nghiệm về hòa giải, đối thoại. Bên cạnh đó, bồi dưỡng kỹ năng một cách bài bản, khoa học giúp nâng cao hiệu quả hòa giải, đối thoại mà các nước trên thế giới đã thực hiện. Ngoài ra, Thẩm phán và cán bộ khác về hưu cũng cần được bồi dưỡng và cập nhật kiến thức pháp luật thường xuyên. Do vậy, tham gia khóa bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải, đối thoại nên được quy định là điều kiện bắt buộc trước khi bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên. Tòa án nhân dân là cơ quan tuyển chọn, bổ nhiệm Hòa giải viên, do đó, nên quy định Học viện Tòa án là cơ quan tổ chức và thực hiện các khóa bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại.

Thứ ba, quản lý Hòa giải viên, Đối thoại viên

Khi thủ tục hòa giải, đối thoại đơn giản và linh hoạt thì đồng nghĩa với việc quyền chủ động và kết quả phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và đạo đức của đội ngũ Hòa giải viên và Đối thoại viên. Do đó, Việt Nam nên ban hành quy tắc đạo đức và ứng xử của Hòa giải viên, Đối thoại viên, có thể tham khảo quy tắc của một số nước, điển hình như Bộ quy tắc ứng xử Hòa giải viên của Châu Âu, Singapore, Ấn Độ và một số Trung tâm trọng tài thương mại của Việt Nam, như Trung tâm VMC110, Trung tâm Trọng tài thương mại Thành phố Hồ Chí Minh111. Đồng thời nên đưa các quy định liên quan tới Quy tắc ứng xử của Hòa giải viên, ví dụ như: các quy định về cơ quan có thẩm quyền ban hành và quản lý việc thực hiện Quy tắc ứng xử; nghĩa vụ tuân thủ Quy tắc của Hòa giải viên, Đối thoại viên… vào Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Thứ tư, phạm vi hoạt động của Hòa giải viên, Đối thoại viên

Phạm vi hoạt động của Hòa giải viên, Đối thoại viên cũng là một vấn đề được đặt ra trong Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, tức là một Hòa giải viên, Đối thoại viên có thể tham gia hòa giải, đối thoại tại một hay nhiều Trung tâm Hòa giải, đối thoại. Điều này phụ thuộc vào cách tuyển chọn, quản lý Hòa giải viên. Trường hợp tuyển chọn Hòa giải viên, Đối thoại viên không hạn chế số lượng và quản lý theo số lượng vụ việc thì các Hòa giải viên, Đối thoại viên có thể tham gia hòa giải, đối thoại tại nhiều Trung tâm Hòa giải, đối thoại. Nếu tuyển chọn số lượng Hòa giải viên, Đối thoại viên theo số lượng vụ việc của từng Trung tâm Hòa giải, đối thoại và quản lý thời gian làm việc của Hòa giải viên, Đối thoại viên thì Hòa giải viên, Đối thoại viên chỉ tham gia hòa giải, đối thoại tại Trung tâm Hòa giải, đối thoại đã bổ nhiệm họ. Đây là giải pháp đã được thực hiện trong quá trình thí điểm và cho thấy sự hiệu quả. Giải pháp này cũng phù hợp với giai đoạn đầu thực hiện cơ chế mới, giúp thuận lợi hơn cho Tòa án trong việc quản lý Hòa giải viên, Đối thoại viên. Tòa án nơi thực hiện thí điểm có thể lập danh sách Hòa giải viên, Đối thoại viên của Tòa án mình để phân công tiến hành hòa giải, đối thoại theo cách luân phiên, ngẫu nhiên để đảm bảo công bằng, khách quan.

Thứ năm, thù lao Hòa giải viên, Đối thoại viên

Trên thế giới hiện nay có hai phương thức trả thù lao cho Hòa giải viên phổ biến, đó là trả theo vụ việc và trả theo tháng. Cách trả thù lao theo vụ việc thường áp dụng đối với các trường hợp Hòa giải viên là cộng tác viên của Tòa án, làm việc bán thời gian, và do đó, Tòa án thường bổ nhiệm không hạn chế số lượng Hòa giải viên. Hàn Quốc là điển hình của phương thức trả thù lao theo vụ việc. Nếu Việt Nam lựa chọn cơ chế làm việc toàn thời gian của Hòa giải viên, Đối thoại viên và bổ nhiệm hạn chế số lượng Hòa giải viên, Đối thoại viên thì nên lựa chọn cách trả thù lao theo tháng kết hợp với theo vụ việc, tức là thêm mức thưởng đối với vụ việc hòa giải thành, đối thoại thành như đã thực hiện thí điểm là phù hợp. Hơn nữa, qua khảo sát, đa số các Hòa giải viên, Đối thoại viên lựa chọn phương thức tính thù lao này (xem Biểu đồ 16 dưới đây).

Biểu đồ 16: Lựa chọn phương thức tính thù lao của Hòa giải viên, Đối thoại viên

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (24).png

4.1.3. Vai trò của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại

Vai trò của Tòa án là tuyển chọn, bổ nhiệm được đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên đáp ứng yêu cầu; bảo đảm sự độc lập của Hòa giải viên, Đối thoại viên khi tiến hành hòa giải, đối thoại. Đồng thời, Tòa án hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để Hòa giải viên, Đối thoại viên thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả, như phân công vụ việc phù hợp với năng lực của Hòa giải viên, Đối thoại viên; tổ chức bồi dưỡng kỹ năng Hòa giải viên, Đối thoại viên; hỗ trợ trong việc gửi giấy mời cho các bên tham gia hòa giải, đối thoại; bảo đảm thù lao, kinh phí và cơ sở vật chất. Tòa án cũng thực hiện việc khen thưởng và xử lý vi phạm một cách xứng đáng và kịp thời.

4.1.4. Trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại

Trước hết, cần tách bạch riêng quy trình hòa giải, đối thoại ra khỏi quy trình tố tụng để phát huy tính linh hoạt và đơn giản hóa thủ tục hòa giải, đối thoại; đồng thời đảm bảo tính bảo mật của quá trình hòa giải, đối thoại.

Thứ hai, vấn đề đặt ra là có nên hỏi ý kiến đương sự trước khi chuyển vụ việc sang quá trình hòa giải, đối thoại hay không. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa pháp lý, trình độ dân trí, mức độ hiểu biết của người dân đối với cơ chế hòa giải, đối thoại. Hàn Quốc là nước sử dụng hòa giải rất linh hoạt và đa dạng loại hình đã chỉ ra kinh nghiệm rằng Tòa án nên tự động chuyển sang hòa giải vì mối quan hệ của các bên tranh chấp thường rất căng thẳng, nếu ngay từ khi nhận đơn mà hỏi người khởi kiện về ý muốn hòa giải thì câu trả lời thường là không. Tuy nhiên, với tâm huyết và năng lực của Hòa giải viên, sẽ giúp họ dần chia sẻ, cảm thông và đi đến hòa giải thành công. Thậm chí, Hàn Quốc còn có cơ chế khuyến khích hòa giải, theo đó Thẩm phán sẽ ra quyết định khuyến khích hòa giải ngay cả đối với những vụ việc mà các bên chưa bày tỏ rõ ý kiến về phương án hòa giải, nhưng cũng không tỏ ra phản đối (có thể do họ còn chút lưỡng lự hoặc giữ thể diện), trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định mà không bên nào phản đối thì quyết định đó có hiệu lực. Kết quả là, hòa giải thành do Tòa án ra quyết định khuyến khích hòa giải có tỷ lệ cao hơn quyết định do các bên thống nhất được toàn bộ tranh chấp ngay từ đầu112. Việt Nam đang bắt đầu cơ chế hòa giải, đối thoại mới, nhiều người dân chưa có hiểu biết đầy đủ về cơ chế này. Do vậy, có thể lựa chọn việc chuyển sang hòa giải, đối thoại mà không cần thủ tục hỏi ý kiến đương sự, tạo sự chủ động cho Hòa giải viên, Đối thoại viên, giúp tăng cơ hội hòa giải, đối thoại thành như kinh nghiệm của Hàn Quốc, cũng như kinh nghiệm từ thí điểm của Việt Nam. Tuy nhiên, nếu lựa chọn cơ chế này thì cần bảo đảm quyền tự quyết của các bên, tức là bất cứ khi nào nhận được đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại của một trong hai bên thì Hòa giải viên, Đối thoại viên cần chuyển ngay hồ sơ vụ việc để Tòa án tiến hành thụ lý vụ việc theo thủ tục chung. Ngược lại, phương án lấy ý kiến đương sự ngay từ đầu sẽ có ưu điểm là tạo sự chủ động hoàn toàn cho đương sự, tránh nguy cơ dẫn đến áp đặt các bên phải tham gia hòa giải, đối thoại.

Thứ ba, nên có quy định kéo dài theo sự thỏa thuận của các bên để bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên và tạo điều kiện cho các bên có cơ hội hòa giải thành, đối thoại thành.

Thứ tư, về xử lý yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của các bên (người khởi kiện nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm theo đơn khởi kiện; hoặc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình Hòa giải viên, Đối thoại viên tiến hành hòa giải, đối thoại). Xuất phát từ việc các bên tự nguyện tham gia hòa giải, đối thoại; tự nguyện thỏa thuận, thống nhất phương án hòa giải, đối thoại, Tòa án không áp đặt các biện pháp có tính cưỡng chế trong quá trình hòa giải, đối thoại. Luật Hòa giải, đối thoại cần quy định trường hợp một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi nộp đơn khởi kiện hoặc trong quá trình hòa giải, đối thoại thì Tòa án không tiến hành hòa giải và Tòa án chuyển sang giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Thứ năm, cần quy định về quyền, trình tự, thủ tục để Hòa giải viên, Đối thoại viên tiến hành xác minh trên thực tế, như xem xét thẩm định tại chỗ của Hòa giải viên, Đối thoại viên; mời các cơ quan, tổ chức cá nhân tham gia quá trình hòa giải, đối thoại, đặc biệt là cơ quan quản lý về gia đình, trẻ em trong tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

Thứ sáu, việc hỗ trợ của cơ quan chính quyền địa phương, đặc biệt là Uỷ ban nhân dân cấp xã trong vấn đề gửi giấy mời các bên, hỗ trợ tổ chức phiên hòa giải tại địa phương đã rất hiệu quả trong thời gian thí điểm. Do đó, cần quy định trong Luật Hòa giải, đối thoại về vai trò hỗ trợ của chính quyền địa phương.

Sau cùng, việc lập biên bản hòa giải, đối thoại nên có sự tham gia của Thẩm phán để nắm bắt nội dung vụ việc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành. Đây cũng là kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc. Thẩm phán đã chỉ định Hòa giải viên, Đối thoại viên có thể đồng thời là Thẩm phán tham gia chứng kiến việc lập biên bản hòa giải, đối thoại đối với vụ việc đó.

4.1.5. Việc công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành

Kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là sự tự nguyện của các bên, do đó các bên thường tự nguyện thi hành. Tuy nhiên, thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành vẫn rất cần thiết để bảo đảm tính pháp lý cho quá trình thi hành. Với đặc trưng của hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Hòa giải viên, Đối thoại viên do Tòa án tuyển chọn, bổ nhiệm, phiên ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại có sự tham gia của Thẩm phán), thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án cần đơn giản hơn so với thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án hiện hành để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả. Việc đơn giản hóa thủ tục cần thể hiện ở việc rút ngắn thời gian và trình tự. Đồng thời việc công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được thực hiện khi có yêu cầu của một trong các bên tham gia hòa giải, đối thoại.

Bên cạnh đó, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án cần quy định việc Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành một phần hoặc toàn bộ. Về mặt lý thuyết, các bên có thể thống nhất được một phần tranh chấp, khiếu kiện, thực tiễn có thể ít xảy ra trường hợp này. Hơn nữa để thống nhất với quy định về hòa giải thương mại ngoài Tòa án, trong đó ghi nhận kết quả hòa giải thành một phần hoặc toàn bộ tranh chấp phát sinh113. Trường hợp hòa giải thành một phần, phần còn lại sẽ được Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng.

4.1.6. Việc xử lý kết quả hòa giải, đối thoại đối thoại không thành

Khi hòa giải, đối thoại không thành thì cần có thủ tục kết nối nhanh gọn đến thủ tục tố tụng, tránh tình trạng kéo dài ảnh hưởng đến quyền của các bên, trừ khi họ rút đơn. Bên cạnh đó, thời gian hòa giải, đối thoại không được tính vào thời hiệu khởi kiện vì đơn khởi kiện đã được nộp đến Tòa án trước khi Hòa giải viên, Đối thoại viên tiến hành hòa giải, đối thoại. Thẩm phán tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại không được tham gia xét xử khi vụ việc hòa giải, đối thoại không thành để bảo đảm tính bảo mật. Tuy nhiên, nếu các đương sự đồng ý thì Thẩm phán đó có thể tham gia xét xử vì như vậy sẽ rút ngắn được thời gian xét xử do Thẩm phán đã nắm bắt được hồ sơ vụ việc (như kinh nghiệm của Malaysia).

4.2. Những vấn đề bảo đảm thi hành Luật

4.2.1. Tuyên truyền phổ biến Luật

Đây là Luật mới và đặc thù với nguyên tắc tự nguyện được xuyên suốt từ đầu đến hết quy trình hòa giải, đối thoại. Các biện pháp tuyên truyền thực hiện trong thí điểm đã thể hiện rất hữu ích và cần được phát huy, trong đó nhấn mạnh vai trò tuyên truyền của chính các Hòa giải viên, Đối thoại viên khi tiếp nhận và xử lý các vụ việc. Cách tuyên truyền này sát thực và có sức lan tỏa mạnh mẽ nhất đến cộng đồng. Bên cạnh đó, cần phổ biến, tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức và người dân từ cơ sở (từ cấp xã) để hỗ trợ và phối hợp tốt hơn trong quá trình thực hiện công tác hòa giải, đối thoại.

4.2.2. Tuyển chọn và bồi dưỡng Hòa giải viên, Đối thoại viên

Thứ nhất, các Tòa án cần tiến hành công tác tuyển chọn, bổ nhiệm Hòa giải viên, Đối thoại viên ngay khi Luật được thông qua để bảo đảm đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngay khi Luật có hiệu lực, trong đó nên huy động đội ngũ Hòa giải viên, Đối thoại viên đã tham gia công tác thí điểm tiếp tục làm Hòa giải viên, Đối thoại viên.

Thứ hai, việc tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng nghiệp vụ hòa giải, đối thoại cần được chú trọng, trong đó kỹ năng nhận diện tâm lý đương sự, đặc biệt là tâm lý trẻ em cần được đưa vào chương trình bồi dưỡng của Học viện Tòa án và các trường đào tạo Luật tại Việt Nam.

Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của Hòa giải viên, Đối thoại viên như ở Biểu đồ 17 dưới đây:

Biểu đồ 17: Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng của Hòa giải viên, Đối thoại viên

C:\Users\Administrator\Downloads\ChartGo (23).png

Sự nhận diện chính xác tâm lý các bên tạo điều kiện giúp cho Hòa giải viên, Đối thoại viên đưa ra phương án hòa giải, đối thoại phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của các bên, từ đó tăng cơ hội hòa giải thành, đối thoại thành cũng như rút ngắn thời gian hòa giải, đối thoại. Kinh nghiệm từ thí điểm đã cho thấy điều này. Tuy nhiên, hiện nay, các trường đại học luật của Việt Nam chưa có chương trình đào tạo về lĩnh vực này.

Thứ ba, cần tập huấn pháp luật cho Hòa giải viên, Đối thoại viên để kịp thời cập nhật những quy định pháp luật mới và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng.

Ngoài ra, có thể tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm giữa các Hoà giải viên, Đối thoại viên, giúp tháo gỡ những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn công tác hoà giải, đối thoại.

4.2.3. Huy động sự trợ giúp từ các cơ quan, tổ chức có liên quan

Sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia trong nước và quốc tế góp phần tích cực tạo nên thành công của công tác thí điểm. Do vậy, cần huy động các nguồn lực này tiếp tục hỗ trợ, đặc biệt trong việc truyền thụ kinh nghiệm, bồi dưỡng kỹ năng hòa giải, đối thoại cho Hòa giải viên, Đối thoại viên.

4.2.4. Xây dựng trung tâm hòa giải, đối thoại trong tương lai

Thành lập các trung tâm hòa giải tại Tòa án là xu hướng chung của các quốc gia, trong đó có những nước điển hình của Châu Á như Ấn Độ, Singapore, Philipin, Malaysia. Mỗi nước có mô hình riêng nhưng việc thành lập các trung tâm thể hiện sự chuyên biệt trong hoạt động hòa giải, tách biệt với hoạt động tố tụng và thuận tiện cho người dân liên hệ.

Việt Nam có thể sử dụng mô hình trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án như đã được thí điểm vì thực tiễn đã mang lại hiệu quả, theo đó, các trung tâm được thành lập tại các Tòa án cấp huyện và tỉnh, lãnh đạo Tòa án là người đứng đầu Trung tâm giúp thuận lợi trong việc quản lý, điều hành, như phân công và hỗ trợ Hòa giải viên, Đối thoại viên; kịp thời đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác hòa giải, đối thoại.

4.2.5. Những vấn đề khác

Để đảm bảo hiệu quả thi hành Luật, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể về công tác hòa giải, đối thoại. Đồng thời, cần đảm bảo kinh phí, cơ sở vật chất, đặc biệt là xây dựng chính sách thù lao phù hợp để khuyến khích và tạo tâm lý yên tâm công tác cho Hòa giải viên, Đối thoại viên; xây dựng mô hình phòng hòa giải thân thiện, phù hợp với tâm lý trẻ em và thuận lợi cho người khuyết tật.

Kết luận: Hòa giải, đối thoại là hoạt động mang tính xã hội, tính nhân văn cao, tác động tích cực đến sự ổn định xã hội. Hòa giải gắn với Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp với nhiều ưu điểm, đã và đang được ưu tiên lựa chọn tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Hoạt động thí điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa án Việt Nam trong thời gian vừa qua đã đạt được nhiều thành tựu lớn. Quá trình thí điểm đã huy động được nguồn nhân lực chất lượng cao như Thẩm phán, các chức danh tư pháp đã nghỉ hưu, luật sư, chuyên gia…, đồng thời cho thấy vai trò hỗ trợ tích cực của Tòa án trong hòa giải, đối thoại. Trong bối cảnh tinh giản biên chế hiện nay, hòa giải, đối thoại giúp giảm đáng kể các vụ việc phải xét xử, giúp Tòa án tập trung nâng cao chất lượng xét xử những vụ việc có tính chất phức tạp. Vì vậy, việc ban hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và thực thi hiệu quả Luật này là đòi hỏi bức thiết ở Việt Nam./.

*1 Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28-11-2013, có hiệu lực từ ngày 01-01-2014, thay thế Hiến pháp năm 1992.

*2 Điều 102 Hiến pháp năm 2013.

*3 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cùng có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2016.

*4 Báo cáo số 56/BC-TANDTC ngày 26-9-2019 của Tòa án nhân dân tối cao, tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án (sau đây gọi là Báo cáo số 56/BC-TANDTC) – tr.2.

*5 Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

*6 Hòa giải viên lao động tiến hành hòa giải đối với tranh chấp lao động cá nhân (Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012).

*7 Thực hiện theo Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/02/2017 của Chính phủ về Hòa giải thương mại.

*8 Hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp đối với tranh chấp đất đai (Điều 202 Luật Đất đai năm 2013).

*9 Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

*10 Điều 30 Luật Khiếu nại.

*11 Báo cáo số 56/BC-TANDTC – tr.8.

*12 Báo cáo số 56/BC-TANDTC - tr.8.

*13 Báo cáo số 56/BC-TANDTC - tr.5.

*14 Trung tâm hòa giải thương mại hoạt động theo Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại (có hiệu lực thi hành từ ngày 15-4-2017).

*15 Báo cáo số 56/BC-TANDTC - tr.12.

*16 Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hoà giải thương mại ban hành vào giữa năm 2017 nhưng đến cuối tháng 12/2018 mới cấp phép cho các trung tâm hoà giải thương mại được hoạt động và đến tháng 5/2019 thì Bộ Công an mới chính thức cấp mẫu dấu để các trung tâm này đi vào hoạt động.

*17 Nguyễn Trung Nam, Hòa giải thương mại tại Việt Nam, mục 3, tại http://www.viac.vn/tin-tuc-su-kien/hoa-giai-thuong-mai-tai-viet-nam-n694.html, truy cập ngày 20-2-2020.

*18Tổng giá trị tranh chấp của 5 vụ việc được hòa giải tại VMC lên đến 934,5 tỉ đồng, xem tại https://www.thesaigontimes.vn/289391/vmc-mot-nam-hoa-giai-5-vu-tri-gia-tranh-chap-gan-1000-ti-dong.html, truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2020.

*19 Điều 10, từ Điều 205 đến Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

*20 Khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

*21 Các quy định về đối thoại trong tố tụng hành chính được quy định tại Điều 20, từ Điều 134 đến Điều 139 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

*22 Báo cáo số 56/BC-TANDTC – tr.7.

*23 Thống kê từ ngày 01-10-2017 đến 31-3-2018 – Báo cáo số 56/BC-TANDTC.

*24 Khoản 2 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

*25 Khoản 4 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

*26 Công văn số 48/TANDTC-PC ngày 09-3-2018 của Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn triển khai thí điểm về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại thành phố Hải Phòng, được sửa đổi, bổ sung bởi Công văn số 72/TANDTC-PC ngày 16-4-2018 (sau đây gọi là Công văn số 48/TANDTC-PC) – tr.3.

*27 Công văn số 308/TANDTC-PC ngày 09-10-2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số hoạt động chuẩn bị triển khai thí điểm về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại tại 16 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – tr.3.

*28 Các tỉnh, thành phố thực hiện thí điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa án bao gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh phúc, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam, Nghệ An, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đồng Nai, Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Cần Thơ.

*29 Công văn số 48/TANDTC-PC – tr.3.

*30 Công văn số 310/TANDTC-PC ngày 11-10-2018 của Tòa án nhân dân hướng dẫn về nghiệp vụ triển khai thí điểm về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Công văn số 310/TANDTC-PC) – tr.7.

*31 Công văn số 310/TANDTC-PC – tr.8.

*32 Công văn số 310/TANDTC-PC – tr.1-7.

*33 Công văn số 310/TANDTC-PC – tr.8.

*34 Công văn số 310/TANDTC-PC – tr.9.

*35 Công văn số 310/TANDTC-PC– tr.10.

*36 Xem ví dụ, Prodigalidad, Patricia-Ann T., Xây dựng một mô hình hòa giải ASEAN : Góc nhìn từ Philippin, tr1-2; xem thêm Chỉ thị 52/2008/EC của Hội đồng Nghị viện châu Âu, ngày 21 tháng 5 năm 2008, đoạn 1-10.

*37 Xem Ibid, đoạn 10 về các khía cạnh của hòa giải trong các vấn đề dân sự và thương mại, Điều 3.

*38 “Hòa giải” trong từ điển kinh doanh, 

http://www.businessdictionary.com/definition/mediation.html (truy cập vào ngày 21-9-2019).

*39Steffek, F., Hòa giải trong Liên minh Châu Âu: Giới thiệu, Cambridge, tháng 6 năm 2012, tr. 1.

*40Choong Yeow Choy, Tie Fatt He và Christina Ooi Su Siang, Thực tiễn hòa giải gắn với Tòa án tại Malaysia: định hướng tương lai, Tạp chí Luật của Đại học Bologna, Vol.1: 2 2016, tr. 273.

*41 Prodigalidad , Patricia-Ann T., Xây dựng mô hình hòa giải ASEAN: Quan điểm của Philippines , tr. 4-6.

*42 Choong Yeow Choy, Tie Fatt He và Christina Ooi Su Siang, tr. 274. (Thông tin trong các đoạn này về hệ thống Malaysia được rút ra chủ yếu từ bài viết này).

*43 Như trên, tại 275-279.

*44 Như trên, tại 286-287, 293-294.

*45 Herrera, Hon. AM, Hòa giải gắn với Tòa án – thực hiện hoạt động: Kinh nghiệm của Philippines, được trình bày tại Hội nghị quốc tế và giới thiệu về cải cách tư pháp, Phiên song phương C, 29 tháng 11 năm 2005, Makati, Philippines, tr. 1-3.

*46 Prodigalidad, tr. 4.

*47 Như trên, at 6-21.

*48 Lee, Jeffrey, Hòa giải ở Trung Quốc đại lục và Hồng Kông: Họ có thể học hỏi lẫn nhau không?, 104 Tạp chí Luật & Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương, Tập 16:1, tr. 104-105.

*49 Như trên, tr. 105.

*50 Như trên, tr. 107.

*51 Như trên, tr. 108.

*52 Thông tin được tổng hợp từ Báo cáo số 43/BC-TANDTC ngày 18-7-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về Chế độ hòa giải dân sự của một số quốc gia trên thế giới (sau đây gọi là Báo cáo số 43/BC-TANDTC) - tr.1-5.

*53 Điều 1 Luật Điều đình dân sự của Nhật Bản.

*54 Thông tin được tổng hợp từ Báo cáo số 43/BC-TANDTC ngày 18-7-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về Chế độ hòa giải dân sự của một số quốc gia trên thế giới (sau đây gọi là Báo cáo số 43/BC-TANDTC) - tr.8-15.

*55 Luật Tố tụng hôn nhân và gia đình đa phần áp dụng Luật Hòa giải dân sự (khoản 1 Điều 49 Luật Tố tụng hôn nhân và gia đình) đối với hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình.

*56 Thông tin được tổng hợp từ Báo cáo số 43/BC-TANDTC ngày 18-7-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về Chế độ hòa giải dân sự của một số quốc gia trên thế giới (sau đây gọi là Báo cáo số 43/BC-TANDTC) - tr.21-26.

*57 Sổ tay đào tạo hòa giải của Ấn Độ”, Ủy ban Dự án hòa giải và thương lượng, Tòa án tối cao Ấn Độ, Delhi.

*58 Thông tin do Chánh án Tòa án tối cao Ấn Độ và Chánh án Tòa án cấp cao Delhi - Ấn Độ cung cấp trong chuyến công tác của Đoàn Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam tại Ấn Độ tháng 11-2017.

*59 Thông tin do Thẩm phán Tòa án tối cao Ấn Độ Arun Kumar Mishra cung cấp tại “Tọa đàm về pháp luật và thực tiễn hòa giải tại Ấn Độ”, do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức tại Hà Nội ngày 11-6-2018.

*60 Thông tin do Chánh án Tòa án tối cao Ấn Độ và Chánh án Tòa án cấp cao Delhi - Ấn Độ cung cấp trong chuyến công tác của Đoàn Tòa án nhân dân tối cao Việt Nam tại Ấn Độ tháng 11-2017.

*61 Thông tin do Thẩm phán Tòa án tối cao Ấn Độ Arun Kumar Mishra cung cấp tại “Tọa đàm về pháp luật và thực tiễn hòa giải tại Ấn Độ”, do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức tại Hà Nội ngày 11-6-2018.

*62 “Quy tắc hòa giải và thương lượng”, Tòa án cấp cao Delhi: New Delhi, Quy tắc 4.

*63 Thông tin do Thẩm phán Tòa án tối cao Ấn Độ Arun Kumar Mishra cung cấp tại “Tọa đàm về pháp luật và thực tiễn hòa giải tại Ấn Độ”, do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức tại Hà Nội ngày 11-6-2018.

*64 Thông tin do Thẩm phán Tòa án tối cao Ấn Độ Arun Kumar Mishra cung cấp tại “Tọa đàm về pháp luật và thực tiễn hòa giải tại Ấn Độ”, do Tòa án nhân dân tối cao tổ chức tại Hà Nội ngày 11-6-2018.

*65 “Quy tắc hòa giải và thương lượng”, Tòa án cấp cao Delhi: New Delhi, Quy tắc 25.

*66 Chỉ thị EC, Điều 1.

*67 Romualdi , G., Công lý giải quyết vấn đề và giải quyết tranh chấp thay thế trong bối cảnh pháp lý của Italia, Tạp chí luật Utrecht, tập 14: 3, 2018, tr. 55. (Thông tin trong các đoạn văn trên hệ thống Italia là d Rawn chủ yếu từ bài viết này).

*68 Như trên, tr.55-56. Nghị định số 28/2010.

*69 Như trên, tr. 58.

*70 Ervasti, Kaiju s, Xung đột giữaTòa án và Hòa giải gắn với Tòa án tại Phần Lan, Nghiên cứu về Luật Scandinavi, tr. 19 4-196. (Thông tin trong các đoạn này trên hệ thống Phần Lan được rút ra chủ yếu từ bài viết này).

*71 Đạo luật về Hòa giải gắn với Tòa án Phần Lan (Đạo luật 663/2005), Phần 5.

*72 Evasti, at 194-197

*73 Shearman và Sterling LLP, Đạo luật hòa giải mới của Đức - Mở đường cho hòa giải theo tiêu chuẩn trong giải quyết tranh chấp? , Tháng 9/2012 , tr. 2-3.

*74 Viện Hòa giải Quốc tế, Pháp luật EU-EEA về Hòa giải. https://www.imimediation.org/resource/eu-eea-legislation-on-mediation/ (truy cập vào ngày 19 tháng 9 năm 2019).

*75 Shearman and Sterling, at 1-5.

*76 Ervasti, tr. 194.

*77 Lee, tr. 108.

*78 Shearman và Sterling, tr. 1-5.

*79 Steffek, F., Hòa giải ở Châu Âu: Sự giới thiệu, Cambridge, June 2012, p. 16.

*80 Xem ví dụ, Lanken, Steve, Thẩm phán Hòa giải, Tuần báo Luật sư (Úc), ngày 11 tháng 12 năm 2012 . https://www.lawyerweekly.com.au/opinion/11179-judging-mediation (truy cập vào ngày 27 tháng 9 năm 2019).

*81 Như trên.

*82 Ervasti, at 191.

*83 Sgubini, A, Preidities, M. và Marighetto, A, Trọng tài, trung gian và hòa giải: Sự khác biệt và tương đồng từ bình diện quốc tế, mediate.com, August 2004.

*84 Romualdi, at 58.

*85 “EU-EAA Legislation on Mediation”, International Mediation Institute. https://www.imimediation.org/resources/eu-eea-legislation-on-mediation/.

*86 Như trên.

*87 Ủy thực thi công lý châu Âu (CEPEJ), Chương trình đào tạo Hòa giải viên cơ bản, cơ sở phát triển hòa giải, P 20-21, ngày 27 tháng 6 năm 2018.

*88Zumeta, Zena. Phương thức hòa giải: hỗ trợ, nhận định và chuyển đổi, https:// www. liền.com / article / zumeta.cfm (truy cập vào ngày 16 tháng 9 năm 2019). Rất nhiều bài giảng với các mô tả và phân tích như vậy. Vì lợi ích của việc xây dựng hệ thống, có lẽ không nên chọn một phương thức cụ thể để áp dụng. Mặt khác, thật hữu ích khi có một sự hiểu biết chung về sự khác biệt. Như đã lưu ý ở trên, một số loại hòa giải trong tố tụng khác nhau cũng có thể được gọi là hòa giải nhận định. Khi nói đến các loại phương thức giải quyết tranh chấp thay thế khác nhau và các phương thức hòa giải khác nhau, có lẽ được hiểu là chuỗi liên kết hơn là một tập hợp các loại riêng biệt.

*89Đạo luật hòa giải của Malaysia, 749, Mục 4 (2012).

*90Ervasti, at 196

*91 Chỉ thị EC, Điều 6.

*92 Ủy ban thực thi công lý châu Âu (CEPEJ), Chương trình đào tạo Hòa giải viên cơ bản , cơ sở triển hòa giải , tr. 20-21, ngày 27 tháng 6 năm 2018.

*93 Thông qua tại cuộc họp toàn thể lần thứ 31 của CEPEJ, Strasbourg, ngày 3-4 tháng 12 năm 2018.

*94Chỉ thị của EU, tại Điều 7 quy định: “Với việc hòa giải được dự kiến diễn ra theo cách tôn trọng bí mật, các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng, trừ khi các bên có thỏa thuận khác, không có bất kỳ Hòa giải viên hay không có bất kỳ người liên quan đến việc tiến hành hòa giải bị buộc phải đưa ra bằng chứng trong tố tụng hoặc trọng tài đối với các vụ việc dân sự và thương mại mà bằng chứng đó phát sinh từ hoặc liên quan đến quá trình hòa giải, ngoại trừ: a) điều này là cần thiết cho việc xem xétchính sách công của Quốc gia thành viên, đặc biệt là để bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em hoặc để ngăn ngừa tổn hại đến sự toàn vẹn về thể chất hoặc tinh thần của người khác; hoặc (b) khi việc tiết lộ nội dung của thỏa thuận hòa giải là cần thiết để thực hiện hoặc thực thi thỏa thuận đó”.

*95 Sự vô tư của Hòa giải viên, Thực tiễn Hòa giải, ngày 01 tháng 5 năm 2014. http://www.mediationpractice.ie/resource/item/impartiality-in-mediation (truy cập vào ngày 21 tháng 9 năm 2019).

*96 Đit 58.i,

*97 Hải Phòng, Hà Nội, Nghệ An, Thành phố Hồ Chí Minh là các địa phương tiêu biểu đại diện cho ba miền Bắc Trung, Nam; trong đó Hải Phòng là địa phương duy nhất thực hiện thí điểm đợt 1 trong 6 tháng (từ tháng 3 đến hết tháng 8 năm 2018) với 10 Trung tâm Hòa giải, đối thoại), đạt kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 76,2%. Sau đó, hoạt động thí điểm được ở rộng trên phạm vi 16 tỉnh, thành phố từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019 (Hải Phòng thực hiện đợt 02 từ tháng 12 năm 2018 và mở rộng thêm 03 Trung tâm Hòa giải, đối thoại).

*98 Số liệu được tổng hợp từ Báo cáo số 56/BC-TANDTC ngày 26-9-2019 của Tòa án nhân dân tối cao, tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

*99 Báo cáo số 56/BC - tr.10.

*100 Số liệu được nhóm nghiên cứu thu thập và tổng hợp từ các số liệu thống kê hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao đối với Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Hồ Chí Minh.

*101 Số liệu cụ thể của từng địa phương thể hiện tại Biểu đồ 1 – tiểu mục 3.1.1. của Báo cáo này.

*102 Theo các quyết định phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo cuối năm 2019 của các địa phương.

*103 Theo số liệu thống kê án hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao.

*104 Số liệu được tổng hợp từ các quyết định thành lập các Trung tâm Hòa giải, đối thoại của các Tòa án tại Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An và Hồ Chí Minh.

*105 Thông tin các vụ việc được tổng hợp từ Báo cáo số49/BC-TANDTC ngày 06-9-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về Tổng kết thí điểm về đổi mới, tăng cường hòa giải, đối thoại trong giải quyết các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính tại 16 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – Phụ lục 3; và thông tin do các Tòa án địa phương cung cấp.

*106 Báo cáo số 55/BC-TANDTC ngày 26-9-2019 của Tòa án nhân dân tối cao đánh giá tác động của chính sách dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

*107 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành các văn bản về hoạt động thí điểm như: Kế hoạch số 301/KH-TANDTC ngày 01-10-2018 về việc thực hiện thí điểm; Kế hoạch số 322/KH-TANDTC ngày 10-10-2018 về tập huấn quy trình, kỹ năng hòa giải, đối thoại; Công văn số 308/TANDTC-PC ngày 9-10-2018 hướng dẫn một số hoạt động chuẩn bị triển khai thí điểm, Công văn số 310/TANDTC-PC ngày 11-10-2018 về hướng dẫn nghiệp vụ triển khai thí điểm…

*108 Hội thảo về “Tăng cường kỹ năng hòa giải cho các Hòa giải viên” ngày 17-18 tháng 12 năm 2018 do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh phối hợp tổ chức JICA của Nhật Bản tổ chức.

*109 Ví dụ, bình quân mỗi Hòa giải viên, Đối thoại viên của Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội phải giải quyết là 160 vụ, việc trong 9 tháng (gần 18 vụ, việc/1 tháng), gấp 02 lần so với tỷ lệ trung bình.

*110 http://www.viac.vn/hoa-giai-(menu)/quy-tac-dao-duc-cua-hoa-giai-vien-trung-tam-hoa-giai-viet-nam-a1489.html/, truy cập ngày 10-2-2020.

*111 Xem tại https://tracent.com.vn/quy-tac-dao-duc-hoa-giai-vien/, truy cập ngày 10-2-2020.

*112 Thông tin được cung cấp bới Thẩm phán Park Hyun Soo – Giám đốc dự án tăng cường năng lực Tòa án – Văn phòng KOICA Việt Nam.

*113 Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2017 về hòa giải thương mại.

File toàn văn Báo cáo đánh giá thí điểm hòa giải Tòa án

Danh sách tệp tin đính kèm

STT Tệp tin đính kèm Tải về
Lượt xem: 353
ácdscv