Loading...
Skip to main content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

image

Số: /2022/CT-CA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

image

Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2022

CHỈ THỊ

Về việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác Tòa án năm 2022

Năm 2022, là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, dự báo tình hình thế giới, trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; đặc biệt là thiên tai, dịch bệnh có khả năng tiếp tục gây ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội; tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án. Cùng với yêu cầu làm tốt công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án trong bối cảnh dự báo số lượng các loại vụ việc phải thụ lý, giải quyết tiếp tục có xu hướng gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp, các Tòa án còn phải thực hiện nghiêm chủ trương về tinh giản biên chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước; đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ thị:

1. Lãnh đạo Tòa án các cấp tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XIII; Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp; các văn bản, nghị quyết của Đảng, Quốc hội về công tác tư pháp và cải cách tư pháp, đặc biệt, chú trọng quán triệt, tổ chức thực hiện nội dung chỉ đạo của đồng chí Tổng bí thư tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan Nội chính triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết số -NQ/BCS ngày / /202… của Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao về lãnh đạo, chỉ đạo việc triển khai thực hiện nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022 của các Tòa án. Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các chỉ đạo, quy định, hướng dẫn về công tác phòng, chống dịch, nhằm thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả COVID-19.

2. Tòa án các cấp phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu, yêu cầu của Quốc hội cũng như của Tòa án nhân dân, cụ thể như sau1:

2.1. Bảo đảm 100% các vụ việc được giải quyết trong thời hạn luật định. Trong đó, giải quyết, xét xử đạt từ 90% trở lên đối với các vụ án hình sự; đạt từ 85% trở lên đối với các vụ, việc dân sự; đạt từ 65% trở lên đối với các vụ án hành chính; đạt từ 99% trở lên đối với các đề nghị xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; đạt từ 60% trở lên đối với các đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm.

2.2. Bảo đảm 100% các bản án, quyết định của Toà án được ban hành trong thời hạn luật định (bao gồm cả quyết định thi hành án hình sự đối với 100% người bị kết án phạt tù, pháp nhân thương mại bị kết án).

Bảo đảm ra quyết định thi hành án hình sự đúng thời hạn luật định đối với người bị kết án phạt tù, pháp nhân thương mại bị kết án đạt tỷ lệ 100%.

2.3. Bảo đảm 100% quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không bị hủy, sửa theo thủ tục giám đốc thẩm.

2.4. Bảo đảm tổng số bản án, quyết định bị huỷ, sửa do nguyên nhân chủ quan không vượt quá 1,5% tổng số các loại án.

3. Để hoàn thành các chỉ tiêu nêu trên, các Tòa án, đơn vị cần tập trung thực hiện tốt các công việc sau:

3.1. Căn cứ các Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch, Chương trình công tác trọng tâm năm 2022 của Ban cán sự đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, khả thi, phù hợp với thực tiễn, có lộ trình thực hiện cụ thể để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác; nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động và uy tín của Toà án nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

3.2. Trong công tác xét xử các vụ án hình sự, bảo đảm xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm cũng như vi phạm thời hạn tạm giam trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; việc xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, áp dụng hình phạt khác không phải là hình phạt tù phải bảo đảm có căn cứ, đúng pháp luật. Chủ động, tích cực thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án về kinh tế, tham nhũng, chức vụ, nhất là đối với những vụ việc do Ban chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh các vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ nghiêm trọng, phức tạp, các vụ án dư luận xã hội quan tâm.

3.3. Trong công tác giải quyết các vụ việc dân sự, cần có giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh tiến độ giải quyết, xét xử, nhất là các vụ án kinh doanh, thương mại, các yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, bảo đảm không để án quá hạn luật định do nguyên nhân chủ quan của Tòa án; hạn chế tối đa việc tạm đình chỉ nhiều lần đối với một vụ án, tạm đình chỉ giải quyết vụ án không có căn cứ pháp luật. Khắc phục triệt để các thiếu sót, vi phạm trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Phấn đấu cải thiện chỉ số giải quyết tranh chấp hợp đồng và chỉ số giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Việt Nam.

3.4. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 03/2018/CT-CA ngày 05/12/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giải quyết, xét xử các vụ án hành chính, hạn chế thấp nhất việc để án quá hạn không đúng quy định của pháp luật; nâng tỷ lệ đối thoại thành các khiếu kiện hành chính. Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh cần tích cực triển khai xây dựng và thực hiện nghiêm Quy chế phối hợp với Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chủ động tham mưu cho cấp ủy địa phương về giải quyết vụ án hành chính. Tập trung đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu để nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh, trách nhiệm của Thẩm phán được giao xét xử vụ án hành chính.

3.5. Tổ chức triển khai thi hành nghiêm túc Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến kể từ Nghị quyết có hiệu lực thi thành (ngày 01/01/2022). Chủ động nghiên cứu, xây dựng dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết trình cấp có thẩm quyền ban hành. Khẩn trương tham mưu, đề xuất trang bị phương tiện, điều kiện bảo đảm cho hoạt động xét xử trực tuyến theo quy định của Nghị quyết. Lựa chọn vụ án đáp ứng đủ điều kiện để đưa ra xét xử bằng hình thức trực tuyến. Đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông để tuyên truyền, phổ biến đến người dân và toàn xã hội về phương thức và ý nghĩa của việc xét xử trực tuyến.

3.6. Đề ra các giải pháp đột phá để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu do Quốc hội đề ra; bảo đảm việc trả lời đơn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Khắc phục tình trạng đã trả lời không có căn cứ kháng nghị, nhưng sau đó lại kháng nghị hoặc kháng nghị, nhưng sau đó lại phải rút kháng nghị.

Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao phải đề ra những giải pháp hữu hiệu để kịp thời xử lý những sai lầm của bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nâng cao chất lượng quyết định kháng nghị; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và bảo đảm công tác giám đốc thẩm, tái thẩm phải có căn cứ, đúng pháp luật; chỉ xem xét kháng nghị, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm khi phát hiện có những sai sót, vi phạm nghiêm trọng làm thay đổi bản chất vụ án.

Làm tốt hơn nữa công tác phối hợp với Viện kiểm sát để rà soát, xem xét, giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Khắc phục cơ bản tình trạng chậm gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Các Tòa án phải thực hiện nghiêm quy định về thời hạn chuyển hồ sơ các vụ việc có đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm khi được yêu cầu.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám đốc việc xét xử của Toà án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới để kịp thời phát hiện, khắc phục, rút kinh nghiệm những sai sót chuyên môn, nghiệp vụ trong quá trình giải quyết, xét xử các loại vụ việc.

3.7. Nâng cao chất lượng xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; công tác thi hành án hình sự bảo đảm việc hoãn, tạm đình chỉ thi hành án, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù phải đủ căn cứ và đúng pháp luật. Kịp thời giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại và xử lý nghiêm trách nhiệm của người gây oan sai theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

3.8. Thực hiện tốt các yêu cầu của phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp; tăng cường tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm, coi đây là một trong các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của Thẩm phán. Tiếp tục duy trì chỉ tiêu mỗi Thẩm phán phải chủ tọa ít nhất một phiên tòa rút kinh nghiệm; tùy tình hình thực tiễn, lãnh đạo đơn vị xem xét giao bổ sung chỉ tiêu này cho từng Thẩm phán.

3.9. Nâng cao chất lượng bản án, quyết định của Tòa án, bảo đảm đúng pháp luật, chặt chẽ, rõ ràng, khả thi. Chỉ đạo thực hiện đúng các quy định, hướng dẫn về nội dung, hình thức bản án, quyết định. Kịp thời sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định đối với các bản án, quyết định có sai sót. Thực hiện nghiêm các quy định về gửi bản án, quyết định của Tòa án cho đương sự và cơ quan hữu quan.

3.10. Thực hiện nghiêm túc việc công khai bản án, quyết định của Tòa án trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân; phấn đấu trong năm 2022 và các năm tiếp theo, 100% bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, có đủ điều kiện công khai đều được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.

3.11. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 06/11/2018 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 04-HD/TW ngày 9/12/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc. Tổ chức thực hiện tốt công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng cùng cấp, cơ quan tổ chức hữu quan, cơ quan bổ trợ tư pháp. Quan tâm giải quyết, khắc phục kịp thời những sai sót, vi phạm đã được Viện kiểm sát kiến nghị và kịp thời đề ra các biện pháp, giải pháp phòng ngừa các thiếu sót, vi phạm, nhất là các vi phạm có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của Tòa án. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan Thi hành án dân sự cùng cấp rà soát các bản án dân sự chưa thi hành do tuyên không rõ ràng để kịp thời giải thích, đính chính hoặc đề xuất kháng nghị theo quy định.

3.12. Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết trả lời kiến nghị của cử tri và Nhân dân; nghiêm túc thực hiện chế độ tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu; nghiên cứu có giải pháp hiệu quả để tiếp công dân phù hợp với yêu cầu phòng, chống dịch COVID-19. Tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại tố cáo đông người, phức tạp, tồn đọng, kéo dài, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật và Chỉ thị số 05/2016/CT-CA ngày 20/7/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; Chỉ thị số 04/2020/CT-CA ngày 11/6/2020 về việc nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tòa án nhân dân; Thông tư số 01/2020/TT-TANDTC ngày 18/6/2020 về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tòa án nhân dân; Chỉ thị số 05/2020/CT-CA ngày 28/7/2020 về tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ trong các Tòa án nhân dân;....

4. Tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và chỉ đạo của Đồng chí Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương đảng về công tác tư pháp để đẩy mạnh cải cách tư pháp trong Tòa án nhân dân góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tích cực, khẩn trương tổ chức nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các đề án, chương trình như: “Đề án cải cách tư pháp tại Tòa án nhân dân đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”; “Định hướng công tác xây dựng pháp luật của Tòa án nhân dân nhiệm kỳ 2021-2026 và các năm tiếp theo”; “Đề án đổi mới và hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; “Đề án hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp đối với người chưa thành niên”; “Đề án vị trí việc làm của Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; “Đề án đổi mới tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII của Đảng đáp ứng yêu cầu tình hình mới”; “Đề án Tòa án điện tử đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”; “Đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức Tòa án nhân dân giai đoạn tiếp theo đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”; “Đề án Cải cách thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án nhân dân đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”; “Đề án phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong Tòa án nhân dân”;...

Chủ động nghiên cứu, tham mưu cho Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao các nội dung về xây dựng Chiến lược xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045; về các giải pháp để tăng cường công tác hòa giải, đối thoại các vụ việc dân sự, vụ án hành chính; về các giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, đổi mới tổ chức phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp; về tăng cường công khai, minh bạch, tăng cường sự giám sát của Nhân dân đối với hoạt động của Tòa án.

5. Tăng cường xây dựng thể chế và bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử. Hoàn thiện dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật được phân công chủ trì soạn thảo hoặc tham gia xây dựng bảo đảm tiến độ, chất lượng; không để bị tác động, chi phối hoặc lồng ghép lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật; không để xảy ra trình trạng chậm, nợ văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật. Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn xét xử, xây dựng, ban hành các Nghị quyết, Thông tư hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và giải đáp kịp thời các vướng mắc về chuyên môn, nghiệp vụ. Các Tòa án cần chủ động tổng hợp những khó khăn, vướng mắc về áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử đề xuất hướng dẫn áp dụng thống nhất.

Tiếp tục làm tốt công tác hoà giải các vụ việc dân sự theo Chỉ thị số 04/2017/CT-CA ngày 03/10/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để nâng cao hơn nữa tỷ lệ hòa giải thành các vụ việc dân sự. Chấn chỉnh và khắc phục ngay những hạn chế, thiếu sót trong triển khai thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; đồng thời có phương án, kế hoạch cụ thể để triển khai thi hành nghiêm túc, có hiệu quả các quy định của luật, góp phần làm giảm áp lực về công việc cho các Tòa án.

6. Thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, gắn với xây dựng Tòa án nhân dân trong sạch, vững mạnh.

6.1. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tổ chức cán bộ; thực hiện có hiệu quả các giải pháp đột phá trong công tác tổ chức cán bộ. Phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền thông qua các Đề án về đổi mới sắp xếp tổ chức bộ máy, về cơ cấu vị trí việc làm, về cải cách chính sách tiền lương trong Tòa án nhân dân; đồng thời có kế hoạch tổ chức thực hiện ngay sau khi được thông qua.

Hoàn thiện đầy đủ các quy định, quy chế trong công tác tổ chức cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ; tiêu chuẩn chức vụ, chức danh; thi tuyển chọn các chức danh lãnh đạo, quản lý; đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong Tòa án nhân dân. Làm tốt công tác quy hoạch, luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ. Đẩy mạnh công tác phối hợp với cấp ủy địa phương trong công tác tổ chức cán bộ của các Tòa án.

6.2. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với quy hoạch, sử dụng và yêu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của Tòa án nhân dân; chú trọng làm tốt công tác đào tạo lý luận chính trị, nghiệp vụ xét xử, đào tạo các chức danh tư pháp. Duy trì, đổi mới hình thức, nội dung tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng tạo nguồn nhân lực chất lượng cho các Tòa án. Có cơ chế, giải pháp để động viên cán bộ, công chức, viên chức tự nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

6.3. Các Tòa án và người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải tiên phong, nêu gương trong việc thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân và phòng chống tham nhũng, lãng phí.

Thực hiện nghiêm Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán; Quy định về xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án. Đề ra giải pháp hữu hiệu để phòng ngừa các thiếu sót, vi phạm, nhất là các vi phạm có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra nội bộ, siết chặt kỷ cương, kỷ luật công vụ; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, tiêu cực của cán bộ, công chức; xem xét trách nhiệm đối với người đứng đầu ở những nơi để xảy ra việc cán bộ, Thẩm phán, Thư ký, công chức Tòa án nhận hối lộ, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

6.4. Xây dựng kế hoạch để tổ chức thực hiện có hiệu quả Phong trào thi đua “Vì Công lý” đã phát động tại Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ IV của các Tòa án nhân dân. Khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện nghiêm túc Quyết định số 524/QĐ-TANDTC-TĐKT ngày 25/11/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc ban hanh kế hoạch thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2022 trong Tòa án nhân dân. Đẩy mạnh việc thực hiện phong trào thi đua theo chủ đề xuyên suốt “Phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư”, với phương châm “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”. Thường xuyên tổ chức lựa chọn, vinh danh Thẩm phán; làm tốt công tác thi đua khen thưởng để cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Tòa án các cấp học tập, noi gương.

7. Tăng cường, mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế theo đúng định hướng công tác đối ngoại của Đảng; nghiên cứu, hoàn thiện và tổ chức thực hiện Đề án đối ngoại của Tòa giai đoạn 2022-2030 nhằm nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án. Tích cực tham gia các hoạt động hợp tác, thực hiện tốt các dự án hỗ trợ kỹ thuật, hoạt động đào tạo cán bộ phục vụ hội nhập quốc tế. Chủ động, tích cực tham gia vào các thiết chế tư pháp quốc tế; thực hiện tốt các điều ước quốc tế, các hoạt động tương trợ tư pháp.

8. Đẩy mạnh thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác; công khai, minh bạch các hoạt động của Tòa án, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi giải quyết công việc tại Tòa án, góp phần xây dựng hình ảnh Tòa án thân thiện, gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân, là chỗ dựa cho nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong Tòa án thông qua việc khẩn trương hoàn thiện và đưa vào sử dụng các phần mềm ứng dụng trong hoạt động của Tòa án. Đẩy mạnh tích hợp, chia sẻ các dịch vụ công trực tuyến của Tòa án nhân dân trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Tiến hành xây dựng và vận hành Tòa án điện tử, Trợ lý ảo theo đúng kế hoạch, tiến độ đã đề ra.

9. Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng, cải tạo trụ sở của các Tòa án đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp nhằm củng cố và hiện đại hóa cơ sở vật chất của Tòa án các cấp. Khẩn trương triển khai các dự án đầu tư trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc giai đoạn IV theo đúng kế hoạch đã được phê duyệt. Quản lý và sử dụng ngân sách được giao hiệu quả, tiết kiệm, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của Tòa án.

10. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác thông tin, truyền thông về tổ chức, hoạt động của Tòa án; tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật; kịp thời phản hồi, phúc đáp những kiến nghị, phản ánh, thắc mắc của nhân dân liên quan tới hoạt động Tòa án.

Giao các đơn vị chức năng thuộc Tòa án nhân dân tối cao giúp lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác ở từng lĩnh vực phụ trách và theo dõi, đôn đốc việc thực hiện trong toàn hệ thống Tòa án. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm quán triệt, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này./.

imageNơi nhận:

- Chủ tịch nước; để

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội; báo

- Văn phòng Chủ tịch nước; cáo

- Văn phòng Chính phủ;

- Ủy ban Tư pháp của Quốc hội;

- Các đ/c PCA TANDTC (để chỉ đạo thực hiện);

- Các đ/c Thẩm phán TANDTC;

- Thủ trưởng các đơn vị thuộc TANDTC,

- Chánh án TAND và TAQS các cấp (để thực hiện);

- Lưu: VP TANDTC.

CHÁNH ÁN

Nguyễn Hòa Bình

*1 Các chỉ tiêu nói tại Mục 2 Chỉ thị này được tính trong tổng số vụ việc Tòa án phải giải quyết trong kỳ báo cáo Quốc hội từ ngày 01/10/2021 đến ngày 30/9/2022. Riêng chỉ tiêu giải quyết, xét xử các vụ án hình sự, hành chính và vụ việc dân sự không tính số vụ việc tạm đình chỉ vào số vụ việc đã giải quyết.

Lượt xem: 2937
Up to Top