Loading...
Skip to main content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

image

Số: /BC-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

image

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

BÁO CÁO

TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2021 VÀ PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ

TRỌNG TÂM CÔNG TÁC NĂM 2022 CỦA CÁC TÒA ÁN

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC TRONG NĂM 2021 CỦA CÁC TÒA ÁN

Năm 2021, tình hình an ninh chính trị, kinh tế, xã hội thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, chịu tác động sâu sắc của đại dịch Covid-19. Trong nước, nhiều sự kiện chính trị quan trọng đã được tổ chức thành công như: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026... Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, khó kiểm soát với sự xuất hiện của biến chủng mới có tốc độ lây lan nhanh, khó lường tại nhiều địa phương, đặc biệt là tại các tỉnh, thành phố trọng điểm phía Bắc và phía Nam đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người dân và nhiều hoạt động kinh tế, xã đội. Trong năm qua, số lượng các loại vụ việc mà các Tòa án phải thụ lý, giải quyết tuy có giảm so với năm trước nhưng tính chất, mức độ hành vi phạm tội vẫn phức tạp, hoạt động manh động với phương thức, thủ đoạn tinh vi; nổi lên là một số tội phạm như: mua bán, vận chuyển ma túy; tổ chức xuất nhập cảnh trái phép; tội phạm mạng; tín dụng đen…; các tranh chấp dân sự, khiếu kiện hành chính vẫn diễn ra phức tạp… đã đặt ra nhiều thách thức trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Bên cạnh đó, thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19, nhiều Tòa án phải tạm dừng, tạm hoãn hoạt động giải quyết, xét xử các loại vụ việc trong thời gian dài để phòng, chống dịch bệnh cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án.

Để chủ động triển khai thực hiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Tòa án, ngay từ đầu năm, Ban cán sự đảng, lãnh đạo Tòa án nhân dân tối cao kịp thời ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác trọng tâm năm 2021 của Tòa án nhân dân1. Đồng thời, tập trung chỉ đạo các Tòa án tiếp tục triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp đột phá, thiết thực nhằm làm tốt công tác giải quyết, xét xử các loại vụ việc; tổ chức triển khai thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; quán triệt, triển khai Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 theo chủ trương của Đảng và quy định của Nhà nước.

Nhờ có sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, sâu sát của Đảng, Nhà nước và Quốc hội; sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ban, ngành ở Trung ương và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương cùng với sự cố gắng, nỗ lực của đội ngũ công chức, viên chức và người lao động Tòa án các cấp nên nhiều nhiệm vụ trọng tâm quan trọng được tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả. Kết quả đạt được cụ thể như sau:

1. Công tác giải quyết, xét xử các loại vụ việc; xem xét áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; công tác thi hành án và một số mặt công tác chuyên môn, nghiệp vụ khác

Từ ngày 01/10/2020 đến ngày 30/9/2021, các Tòa án đã thụ lý 537.577 vụ việc, đã giải quyết được 436.660 vụ việc (đạt tỷ lệ 81,2%); số vụ việc đã thụ lý giảm 64.675 vụ việc, đã giải quyết giảm 107.944 vụ việc nguyên nhân là do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhiều vụ việc không thể mở phiên tòa, phiên họp theo kế hoạch. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của Tòa án là 0,81% (giảm 0,25%), đáp ứng yêu cầu Quốc hội và Tòa án đề ra. Tình hình thụ lý, giải quyết từng loại vụ việc cụ thể như sau:

a) Về giải quyết các vụ án hình sự

Các Tòa án đã thụ lý 88.607 vụ với 160.574 bị cáo; đã giải quyết, xét xử được 79.409 vụ với 138.272 bị cáo, đạt tỷ lệ 89,62% về số vụ và 86,11% về số bị cáo (thụ lý giảm 1.119 vụ, giải quyết giảm 8.361 vụ). Trong đó, thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 73.855 vụ với 136.350 bị cáo, đã giải quyết, xét xử 67.176 vụ với 119.077 bị cáo2; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 14.428 vụ với 23.634 bị cáo, đã giải quyết, xét xử 11.960 vụ với 18.695 bị cáo; thụ lý theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 324 vụ với 590 bị cáo, đã giải quyết, xét xử 273 vụ với 500 bị cáo. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,92%, giảm 0,26% (do nguyên nhân chủ quan là 0,42%); bị sửa là 4,52%, giảm 0,39% (do nguyên nhân chủ quan là 0,18%).

Các Tòa án kịp thời đưa ra xét xử các vụ án kinh tế, tham nhũng; trong năm qua, các Tòa án đã thụ lý sơ thẩm 2.880 vụ với 6.124 bị cáo phạm các tội kinh tế, tham nhũng3; đã xét xử 2.263 vụ với 4.125 bị cáo (chiếm 3,06% số vụ và 3,03% số bị cáo trong tổng số vụ án hình sự đã thụ lý). Áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; đồng thời chú trọng các biện pháp thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động người phạm tội tự nguyện nộp tài sản đã chiếm đoạt để nâng cao hiệu quả công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đã xử lý nghiêm các vụ án tham nhũng do những người có chức vụ, quyền hạn thực hiện, được dư luận xã hội rất quan tâm như: vụ án Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh và các bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Công ty Cổ phần hóa dầu và nhiên liệu sinh học dầu khí Ethanol Phú Thọ và Tổng Công ty xây lắp Dầu khí Việt Nam; vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” và “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Dự án cải tạo và mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên; vụ án Vũ Huy Hoàng, Nguyễn Hữu Tín và đồng phạm phạm các tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí” và “Vi phạm quy định về quản lý đất đai” xảy ra tại Bộ Công thương và Sabeco; vụ án “Buôn lậu”, “Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng”, “Rửa tiền”, “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Nhật Cường…

Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các Tòa án đưa ra xét xử kịp thời và áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo trong các vụ án liên quan đến phòng chống dịch bệnh, góp phần tích cực vào công tác này. Các Tòa án đã thụ lý 144 vụ với 187 bị cáo liên quan đến phòng chống dịch bệnh Covid-19, đã xét xử 136 vụ với 177 bị cáo4.

Qua công tác giải quyết, xét xử các vụ án hình sự cho thấy, việc xét xử các vụ án hình sự bảo đảm nghiêm minh, đúng pháp luật. Các Tòa án tiếp tục chú trọng việc tranh tụng tại phiên tòa theo hướng thực chất, hiệu quả. Công tác phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện thường xuyên, chặt chẽ, trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng để kịp thời đưa các vụ án ra xét xử. Các Tòa án đã phối hợp với Viện kiểm sát cùng cấp tổ chức 8.965 phiên tòa rút kinh nghiệm, qua đó giúp các Thẩm phán, Kiểm sát viên tích lũy thêm kinh nghiệm thực tiễn. Việc trả hồ sơ cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật. Việc xem xét, quyết định áp dụng hình phạt khác không phải là hình phạt tù đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Năm 2021, thực hiện Quyết định số 1161/2021/QĐ-CTN ngày 30/6/2021 của Chủ tịch nước, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn, thẩm định hồ sơ, tham gia Đoàn công tác liên ngành và thực hiện tốt các nhiệm vụ trong công tác đặc xá được giao.

b) Về giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động

Các Tòa án đã thụ lý 411.299 vụ việc5; đã giải quyết, xét xử được 324.813 vụ việc, đạt tỷ lệ 79% (số thụ lý giảm 60.282 vụ việc; giải quyết, xét xử giảm 94.980 vụ việc)6. Trong đó, thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 393.962 vụ việc, đã giải quyết, xét xử 312.398 vụ việc; thụ lý theo thủ tục phúc thẩm 16.437 vụ việc, đã giải quyết, xét xử 11.701 vụ việc; thụ lý theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 900 vụ việc, đã giải quyết, xét xử 714 vụ việc. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,57%, giảm 0,07% (do nguyên nhân chủ quan 0,39%); bị sửa là 1,1%, giảm 0,1% (do nguyên nhân chủ quan 0,4%).

Năm 2021, các Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã chuyển cho các cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài 4.225 hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp; đã nhận được kết quả trả lời đối với 1.238 trường hợp (đạt tỷ lệ 29,3%). Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng đã nhận được 1.119 hồ sơ yêu cầu ủy thác tư pháp vào Việt Nam; đã thực hiện được 492 hồ sơ (đạt tỷ lệ 44%), từ chối thực hiện đối với 53 trường hợp. Để tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu quả công tác tương trợ tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao đã nghiên cứu, góp ý đối với 07 hồ sơ đề xuất đàm phán, ký kết 07 điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người bị kết án phạt tù. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhưng các Tòa án đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài, thu thập chứng cứ ở nước ngoài bằng nhiều phương thức khác nhau; thực hiện tốt công tác phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an trong việc cung cấp thông tin về tương trợ ủy thác tư pháp.

Các Toà án đã thụ lý 1.558 yêu cầu áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; đã giải quyết 1.318 yêu cầu, trong đó chấp nhận 907 yêu cầu (chiếm 68,8%); không chấp nhận 342 yêu cầu (chiếm 26%); đương sự rút 69 yêu cầu; còn lại 240 yêu cầu đang được xem xét, giải quyết.

Qua công tác giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự cho thấy, các Tòa án đã làm tốt việc hướng dẫn các đương sự thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tài liệu của vụ án; chủ động xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật; tăng cường phối hợp với các cơ quan hữu quan nhằm giải quyết tốt vụ án. Đã hạn chế đến mức thấp nhất việc để án quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án không đúng căn cứ pháp luật; tính đến 30/9/2021, còn 40 vụ việc dân sự quá thời hạn theo quy định của pháp luật do nguyên nhân chủ quan. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo các Tòa án chú trọng và tập trung thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải, góp phần củng cố mối đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Năm 2021, các Tòa án đã hòa giải thành 163.316 vụ, chiếm 52,3% trong tổng số các vụ việc dân sự đã giải quyết.

c) Về thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

Để triển khai, thi hành Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao đã kịp thời ban hành Kế hoạch; thành lập Ban Chỉ đạo; ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo các Tòa án tổ chức thi hành và thực hiện nghiêm Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành 03 Thông tư7, 01 Giải đáp8 và nhiều văn bản hướng dẫn, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thi hành luật; xuất bản cuốn Thông tin khoa học xét xử chuyên đề về hòa giải, đối thoại tại Tòa án… để giúp các Tòa án tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức hòa giải, đối thoại.

Các Tòa án đã xây dựng kế hoạch triển khai, lựa chọn, đề xuất người đủ điều kiện, tiêu chuẩn làm Hòa giải viên theo quy định của Luật để tập huấn, bồi dưỡng và bổ nhiệm làm Hòa giải viên. Học viện Tòa án đã tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho gần 2.000 người có nguyện vọng được bổ nhiệm làm Hòa giải viên. Đến nay, các Tòa án đã bổ nhiệm được gần 3.000 Hòa giải viên.

Tính đến ngày 30/9/2021, các Tòa án nhận được 197.279 đơn khởi kiện đủ điều kiện tiến hành hòa giải, đối thoại; trong đó, các đương sự đồng ý hòa giải, đối thoại là 28.004 đơn. Trong số 28.004 đơn nêu trên, đã hòa giải, đối thoại thành 13.279 vụ việc, đạt tỷ lệ 58,31%; hòa giải, đối thoại không thành 5.062 vụ việc; không tiến hành hòa giải, đối thoại được 4.431 vụ việc; còn lại 5.232 vụ việc đang trong quá trình tổ chức hòa giải, đối thoại.

d) Về giải quyết các vụ án hành chính

Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 10.728 vụ; đã giải quyết, xét xử được 5.693 vụ, đạt tỷ lệ 53,1% (thụ lý giảm 1.742 vụ, xét xử giảm 2.889 vụ). Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy là 3,3% (do nguyên nhân chủ quan là 2,44%, giảm 0,18%); bị sửa là 2,81% (do nguyên nhân chủ quan là 2,44%, giảm 0,1%).

Qua công tác giải quyết, xét xử các vụ án hành chính cho thấy, các vụ án chủ yếu liên quan tới khiếu kiện các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai (đã thụ lý 6.232 vụ, chiếm 78,7% tổng số các khiếu kiện hành chính). Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo các Tòa án tiếp tục chú trọng tổ chức đối thoại giữa người khởi kiện và người bị kiện; nghiên cứu tổ chức các buổi đối thoại bằng hình thức trực tuyến; ký kết và thực hiện tốt Quy chế phối hợp công tác với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan có liên quan để tăng cường trách nhiệm, tạo điều kiện hỗ trợ, cung cấp tài liệu, chứng cứ vụ án; tập trung phân loại, kiểm tra, rà soát để ưu tiên giải quyết, xử lý dứt điểm đối với các vụ án thụ lý đã lâu; tăng cường bố trí, phân công Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký có năng lực, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và kinh nghiệm thực tiễn xét xử; đổi mới, tăng cường tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng xét xử, kiến thức quản lý hành chính nhà nước cho các Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký; tăng cường công tác giám đốc, kiểm tra; nghiên cứu, rà soát, tổng kết những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn xét xử để Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kịp thời hướng dẫn, giải đáp, trao đổi nghiệp vụ hoặc đề xuất kiến nghị giải quyết...

Với việc thực hiện hiệu quả, quyết liệt các giải pháp đã đề ra, chất lượng giải quyết án hành chính được nâng lên, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan giảm so với năm trước; đã khắc phục triệt để việc quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật và tính đến ngày 30/9/2021 không còn vụ án nào bị quá hạn luật định do nguyên nhân chủ quan; không có bản án, quyết định hành chính phải giải thích hoặc kháng nghị do tuyên không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác thi hành án. Trong năm qua, các Tòa án đã ban hành 107 quyết định buộc thi hành bản án, quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

đ) Về xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân